About The Author

Sharing Tutorials on Using Computers, Basic, Simple and Easy Tips on Using Internet, Tricks and Techniques That I've Learnt Thus Far.

Email subscription

Pages

Showing posts with label Internet. Show all posts
Showing posts with label Internet. Show all posts

12.07.2010

Khắc phục kết nối Internet sau khi bị nhiễm virus

Đây là trường hợp thường gặp phổ biến nhất của những máy tính đã và sau khi bị nhiễm virus. Ngay cả khi đã loại bỏ hoàn toàn được virus ra khỏi hệ thống, bạn vẫn không thể kết nối Internet. Chúng ta sẽ phải làm gì? Format toàn bộ ổ cứng và cài lại hệ điều hành? Các bạn hãy áp dụng những phương pháp cơ bản sau để khắc phục tình trạng đó.

Cách 1:

Bỏ dấu check tại mục proxy trong Internet Explorer. Một số loại virus sẽ trỏ các kết nối từ máy tính trực tiếp đến server của chúng, và bạn nên thực hiện bước này trước khi quét mã độc trên toàn bộ máy tính. Mở Internet Explorer và chọn Tools > Internet Options > Connection Settings > LAN Settings:

Bỏ dấu check tại lựa chọn Proxy server và nhấn OK.

Cách 2:

Mặt khác, cac bạn có thể áp dụng cách reset lại toàn bộ các thiết lập của trình duyệt, ví dụ ở đây là Internet Explorer. Các bước thực hiện như sau:

 - Tắt tất cả các chương trình, ngoại trừ Internet Explorer

 - Nhấn tổ hợp phím WinKey + R, và gõ inetcpl.cpl

 - Tại thẻ Advanced Tab, ở phía dưới là lựa chọn Resent Internet Explorer Settings, nhấn Reset và OK. Sau đó khởi động lại Internet Explorer:
Cách 3:

Tại bước này, chúng ta sẽ tiến hành reset lại file Windows Hosts. Thực chất, file này chứa tất cả các mapping – gọi đơn giản là “bản đồ”, của các website cho tới địa chỉ IP trên Internet, và Windows sử dụng file này để trỏ trình duyệt tới đúng địa chỉ website đó trên Internet. Và cũng theo cách thức như vậy, virus đã len lỏi và thay đổi nội dung của file này, qua đó người sử dụng sẽ kết nối thẳng đến những địa chỉ độc hại đã được chuẩn bị sẵn. Các bạn hãy chỉnh sửa lại fil Windows Hosts theo cách sau:

 - Nhấn WinKey + R và gõ %systemroot%\System32\drivers\etc vào ô Run.
 - Đổi tên file hosts thành hosts.bak
 - Tạo mới 1 file text bằng NotePad với nội dung như sau:

# Copyright (c) 1993-1999 Microsoft Corp.
#
# This is a sample HOSTS file used by Microsoft TCP/IP for Windows.
#
# This file contains the mappings of IP addresses to host names. Each
# entry should be kept on an individual line. The IP address should
# be placed in the first column followed by the corresponding host name.
# The IP address and the host name should be separated by at least one
# space.
#
# Additionally, comments (such as these) may be inserted on individual
# lines or following the machine name denoted by a '#' symbol.
#
# For example:
#
# 102.54.94.97 rhino.acme.com # source server
# 38.25.63.10 x.acme.com # x client host

127.0.0.1 localhost


Sau đó lưu đè lên file hosts cũ của Windows

Cách 4:

Tiếp theo, các bạn có thể sử dụng Winsock để “làm sạch” toàn bộ các thiết lập kết nối Internet. Chương trình hoàn toàn miễn phí, dễ sử dụng và hiệu quả rất cao. Phiên bản Winsock dành cho Windows XP được download tại đây, còn với Windows Vista hoặc Wins 7, các bạn hãy áp dụng cách thủ công sau đây:

 - Sử dụng Command Prompt (Winkey + R và gõ cmd), gõ lệnh sau:

      netsh winsock reset catalog
      netsh int ip reset reset.log hit

 - Sau đó khởi động lại máy tính.

Trên đây là những cách cơ bản và đơn giản nhất để khắc phục tình trạng không thể kết nối Internet sau khi máy tính bị nhiễm virus. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hệ thống, các chuyên gia an ninh mạng đã khuyến cáo người sử dụng nên mua bản quyền của những chương trình bảo mật như Kaspersky, Norton, BitDefender, Panda, Avira... các sản phẩm này hiện đã có sẵn trên gian hàng trực tuyến của công ty cổ phần mạng trực tuyến Meta. Chúc các bạn thành công! 



T.Anh (theo RemoveVirus)

11.02.2010

Lướt web an toàn với McAfee SiteAdvisor

Các trình duyệt web như Chrome, Firefox… đều có tính năng cảnh báo khi người dùng truy cập vào website nghi vấn không an toàn. Tuy nhiên, sử dụng một phần mềm chuyên dụng để thực hiện điều này sẽ đảm bảo hơn. McAfee Site Advisor là một trong số đó.
McAfee SiteAdvisor là phần mềm có khả năng phân tích và nhận dạng những website “bẩn” và không an toàn để cảnh báo người dùng trước khi họ ghé thăm. Phần mềm cũng cho phép người dùng khóa không cho phép truy cập các website bị đánh giá không an toàn, đề phòng trường hợp người ngoài tự ý sử dụng máy tính để truy cập các website này, bất chấp cảnh báo của phần mềm.

So với các công cụ tương tự có chức năng cảnh báo độ an toàn của website, McAfee SiteAdvisor có khả năng nhận diện và đánh giá số lượng website lớn và đầy đủ hơn rất nhiều.

Mặc định, McAfee SiteAdvisor có giá 19.95 USD trong hạn dùng 1 năm. Tuy nhiên, McAfee đang có chương trình khuyến mãi cho phép người dùng sử dụng miễn phí trong 1 năm.

- Đầu tiên, download phiên bản khuyến mãi đặc biệt của McAfee Site Advisor tại đây.

- Truy cập vào đây, điền đầy đủ thông tin vào khung đăng ký rồi nhấn nút ‘I Agree’ để khởi tạo 1 tài khoản McAfee.
 
Lưu ý: mật khẩu bạn khởi tạo phải có ít nhất 1 ký tự số mới được chấp nhận.
 

- Tiến hành cài đặt phần mềm. Ở bước đầu tiên, bạn sẽ được yêu cầu điền email và mật khẩu đã đăng ký ở trên. Nhấn Next để tiếp tục và hoàn tất quá trình cài đặt.
 
Khi tiến hành cài đặt, bạn nên tắt tất cả các cửa sổ trình duyệt web đang mở.
 

Sau khi cài đặt, nút bấm McAfee SiteAdvisor Plus sẽ xuất hiện trên giao diện trình duyệt web. Hiện phần mềm chỉ hỗ trợ Firefox và Internet Explorer, trong trường hợp sử dụng Google Chrome, bạn có thể cài đặt add-on McAfee SiteAdvisor miễn phí tại đây.
 
Khi tiến hành tìm kiếm trên các công cụ tìm kiếm như Google, Bing, Yahoo!..., McAfee SiteAdvisor Plus sẽ tự động phân tích và đánh giá các kết quả trả về, từ đó cho biết các website có an toàn hay không.
 

Mức độ an toàn của các website được đánh giá dựa nội dung website và các trang liên kết đặt trên website đó. Phần mềm cũng phân loại mức độ an toàn theo các màu sắc, với màu xanh là an toàn, màu vàng là cần cảnh giác và màu đỏ là cực kỳ nguy hiểm.

Tuy nhiên, nếu muốn, bạn vẫn có thể truy cập vào các website bị đánh giá là nguy hiểm này. Khi đó, phần mềm sẽ lập tức cảnh báo.
 

Để đảm bảo an toàn, bạn nên sử dụng phần mềm để khóa truy cập vào các website bị đánh giá nguy hiểm, lừa đảo… Để làm điều này, kích chuột vào biểu tượng  mũi tên của phần mềm trên trình duyệt, chọn ‘Enable Protected Mode’.
 

Một hộp thoại hiện ra, yêu cầu bạn khởi tạo mật khẩu để bảo vệ. Phần ‘Password Hint’ để bạn điền lời gợi ý, đề phòng trường hợp quên mật khẩu sau khi đã khởi tạo.
 

Điền và xác nhận mật khẩu rồi nhấn OK.

Bây giờ, khi truy cập vào các website bị cảnh báo, bạn sẽ được chuyển đến trang trung gian của McAfee, và được hỏi xem có thực sự muốn truy cập vào website này hay không. Nếu muốn bỏ qua lời cảnh báo, nhấn nút ‘Override this warning’, rồi điền mật khẩu đã khởi tạo ở trên để truy cập trang web.

Điều này sẽ đảm bảo không có ai được phép sử dụng máy tính truy cập vào các website không an toàn, tránh nguy cơ lẫy nhiễm mà bạn không hay biết. Ngoài ra, tính năng này cũng giúp hệ thống không bị tự động chuyển đến các website “bẩn” trong trường hợp máy tính đã bị nhiễm virus từ trước.

Không chỉ kiểm tra độ sạch các đường link từ kết quả tìm kiếm, McAfee SiteAdvisor Plus còn kiểm tra các đường link được gửi đến thông qua email hay các chương trình chat.

McAfee SiteAdvisor Plus thực sự là công cụ hoàn hảo để bảo vệ người dùng an toàn trong môi trường Intenet đầy bất trắc.

Phạm Thế Quang Huy

11.01.2010

Chữa những lỗi khó chịu của Internet

Dưới đây là cách loại bỏ những trang gây khó chịu trong Facebook, tăng tốc Firefox và giữ các đường link iTunes trong việc tự động chạy các ứng dụng.
Với vị thế của một trang đã quá phổ biến, Facebook chắc chắn biết được cách làm khó chịu người dùng của mình. Sự thay đổi khó hiểu nhất mới đây: Bạn sẽ không còn “Become a Fan” của một trang cá nhân hay nhân vật nổi tiếng nào nữa. Giờ đây, bạn sẽ “Like” - thích – họ.
Khó chịu hơn, một số cửa sổ pop-up gây bực mình khi người dùng kích vào một vài ngày trước đó sẽ ảnh hưởng tới tất cả các trang yêu thích đã được thêm vào News Feed – theo một cách mà trước đó chúng không thực hiện. Giờ đây, nó thậm chí còn lộn xộn hơn cả trước kia, với những cập nhật khác thường và người dùng cũng không mong muốn có.
Nếu bạn đã, đang bị “làm khổ” bởi những thay đổi này, có thể bạn đang tìm kiếm một cách nào đó nhằm loại bỏ những chướng ngại vật News Feed này. Bạn sẽ có 2 sự lựa chọn: Ẩn hoặc “Unlike”.
Nút ẩn – Hide – xuất hiện ở bên phải mỗi khi bạn di chuyển chuột qua bất kì một mục tin nào trong News Feed. Kích vào đó rồi kích tiếp vào nút xác nhận Hide (tên trang). Kết quả: Không còn một thông tin cập nhật nào của trang này xuất hiện trên tường nhà bạn nữa.
Ngoài ra, bạn cũng có thể muốn cho một số trang bạn bè biến mất khỏi Profile của mình (họ vẫn tồn tại cho tới khi bạn chỉ đơn thuần là ẩn chúng đi). Tuy nhiên, làm thế nào để xóa chúng đi? Chúng ta có thể tìm lựa chọn Unlike như đã nêu trước đó ở đâu?
Nó nằm ẩn ở trang hiển thị. Kích vào bất kì một trang người hâm mộ nào, sau đó kéo xuống cuối trang và hướng tới dòng bên tay trái của bạn. Tại đây, bạn sẽ thấy một đường link Unlike nhỏ, hơi khó phân biệt một chút. Kích vào đó và bạn sẽ được “tự do”.
Firefox chạy chậm? Cách sau đây có thể giúp bạn nhanh chóng giải quyết vấn đề
Thời gian gần đây, chúng tôi đã gặp một vấn đề khó hiểu: Rất nhiều lần, Firefox trở nên chậm chạp hơn. Khi kích vào một đường link và trình duyệt đã mất tới một vài giây để đăng kí. Hoặc, khi mở một hộp thoại, ví như một hộp công cụ blog, và vấn đề tương tự cũng xảy ra. Thậm chí, ngay cả một hành động đơn giản như kéo thanh trượt xuống cũng rất chậm.
Phiên bản cập nhật Firefox 3.6 mới được ra mắt gần đây được kì vọng có thể loại bỏ những vấn đề này, nhưng điều đó đã không xảy ra.
Cuối cùng, chúng tôi đã phát hiện ra nguyên nhân của vấn đề: sự chậm chạp của trình duyệt này chỉ xảy ra khi chúng ta mở một thẻ có chứa video trong đó, ví như các video của Youtube. Khi đóng những thẻ này lại, Firefox sẽ lại nhanh chóng thực hiện các tác vụ của mình.
Điều này có khó hiểu? Thực tế, đây không phải là vấn đề lớn, nhưng vẫn có rất nhiều người phàn nàn về vấn đề này. Chúng tôi nghi ngại rằng một trong những tiện ích mở rộng của Firefox đã gây ra sự xung đột với Flash, phần mềm hỗ trợ hầu hết các loại video gắn kèm.
Tuy nhiên, đó chỉ là những phỏng đoán của chúng tôi. Khi chúng tôi làm việc nhằm giải quyết vấn đề, giải pháp ngắn hạn có thể là: Đóng tất cả các thẻ có video gắn kèm.
Bài học trong vấn đề này cho bạn là: Khi vấn đề này xảy ra, không nên phản ứng thái quá. Có rất nhiều người dùng đã nghĩ rằng sự chậm chạp ngẫu nhiên của trình duyệt là kết quả của virus. Hoặc một lỗi nghiêm trọng của Windows yêu cầu người dùng cần phải quét sạch hoặc khôi phục hệ thống. Tuy nhiên, những hiện tượng chạy không đều này thường không xuất hiện nhiều, và chỉ với một chút kiên nhẫn và giải quyết vấn đề theo phương pháp,bạn đã có thể giải quyết chúng rất nhanh chóng.
Chặn các đường link iTunes khi chạy iTunes

Một vài tháng trước, Apple bắt đầu "di chuyển" App Store lên Web, có nghĩa rằng bạn có thể đọc tất cả các thông tin về một ứng dụng nào đó mà không phải chạy iTunes.
Tuy nhiên, khi kích vào đường link của một ứng dụng nào đó bạn sẽ thấy hiển thị một trang web hiển thị iTunes tương ứng, sau đó mới tải iTunes? Một quá trình nhiều bước và có chút rắc rối?
May mắn thay, bạn có thể chặn những bước khó chịu này, để đọc được trang web của một ứng dụng, và chạy iTunes chỉ khi bạn muốn. Những hướng dẫn dưới đây dành cho người dùng Firefox (Internet Explorer vẫn chưa có giải pháp hỗ trợ giải quyết vấn đề này).
1. Trong trình duyệt Firefox, mở một thẻ trống ra, rồi gõ: about:config trong thanh địa chỉ và nhấn Enter. Chấp nhận cảnh báo xuất hiện sau đó.
2. Trong khu vực Preferences, nhấp phải chuột vào bất kì chỗ nào và chọn New > Boolean. Tiếp đến, điền dòng sau vào khu vực trống: network.protocol-handler.warn-external.itms.
3. Kích OK. Tiếp đến, chọn cài đặt True trong hộp thoại xuất hiện sau đó.
4. Khởi động lại Firefox và bạn đã loại bỏ được vấn đề.
Lần sau khi bạn kích vào một đường link dẫn tới trang web của một ứng dụng, bạn cũng sẽ thấy một hộp thoại hỏi rằng bạn có muốn chạy iTunes hay không. Kích Cancel và tiếp tục công việc của mình.
Nếu bạn quyết định muốn xem một ứng dụng chính xác trong iTunes, chỉ cần kích vào nút màu xanh View In iTunes ở bên trái của bảng.
Lamle (Theo PCWorld.com)

Cấm/Chặn web độc bằng OpenDNS


OpenDNS cung cấp một ứng dụng hỗ trợ thay đổi thông số DNS của hệ thống để lướt web an toàn. Ứng dụng mới này có tên FamilyShield, có thể làm việc với hầu hết các hãng router hiện nay.

Bạn truy cập vào địa chỉ opendns.com/familyshield và nhấn vào nút Sign up for free để đăng ký một tài khoản miễn phí trên OpenDNS. Tại trang web hiện ra, nhập địa chỉ email đăng ký và nhắp vào nút Let's begin ở dưới mục Enter your email address below: Tại đây bạn có 2 lựa chọn thiết lập FamilyShield vào máy tính (hỗ trợ Windows, Mac, Mobile phone...) của bạn hoặc cài đặt trực tiếp vào Router (được khuyến cáo).
Cách thiết lập FamilyShield

- Đối với máy tính: Bạn sẽ được đưa đến một trang hướng dẫn cấu hình thay đổi thông số DNS cho từng loại hệ điều hành. Thông số DNS của FamilyShield là 208.67.222.123 đối với Preferred DNS và 208.67.220.123 đối với Alternate DNS.

- Đối với Router: Sau khi lựa chọn mục này, bạn sẽ được đưa đến một trang web có chứa tên các hãng router mà chương trình có khả năng hỗ trợ. Những thương hiệu router ở đây bao gồm: 3com, D-Link, NetGear, Asus, LinkSys, Motorola, SpeedStream... Sau khi chọn thương hiệu router bạn đang sử dụng, bạn sẽ được đưa đến trang cung cấp các model router của thương hiệu đó.

Bạn truy cập vào địa chỉ của trang thiết lập router. Tùy loại router mà địa chỉ truy cập khác nhau, chẳng hạn với loại D-Link sử dụng phổ biến trên ADSL của VNPT thì bạn vào địa chỉ truy cập là 192.168.0.1. Sau đó, bạn nhập tên và mật khẩu đăng nhập (thường là admin cho cả hai).

Sau khi vào trang chủ, bạn nhắp vào tab Home và chọn mục WAN theo hướng dẫn sử dụng và thiết lập thông số mục Primary DNS Address là 208.67.222.123 và Secondary DNS Address là 208.67.220.123.

Với cách làm này, bạn không phải tiến hành thực hiện cấu hình lại thông số DNS mỗi khi cài lại Windows hoặc mang router đi sử dụng cho các máy tính khác.
Theo Itgat

Cách download an toàn từ internet

Bạn luôn cảm thấy lo lắng khi download file bất kỳ từ Internet về máy tính? Người sử dụng sẽ không thể chắc chắn được họ đang tải ứng dụng tốt hay xấu về hệ thống? Làm thế nào để mọi người có thể nhận biết và tránh xa các hiểm họa này? Khi áp dụng cách này thì chỉ áp dụng với các file đã tải về máy tính, bạn muốn chắc chắn hơn nữa? Hãy sử dụng dịch vụ trực tuyến của VirusTotal.

Với hơn 40 công cụ bảo mật kết hợp của các hãng khác nhau, VirusTotal có thể coi là dịch vụ an ninh trực tuyến tốt nhất hiện nay. Khi muốn kiểm tra tình trạng của 1 đường dẫn bất kỳ nào đó, hãy copy địa chỉ URL đó:
và paste vào thẻ Submit a URL của VirusTotal.com, sau đó nhấn nút Submit URL:
VirusTotal sẽ tiến hành phân tích, sàng lọc và phân loại các tín hiệu an toàn và nguy hiểm thu thập được từ những công cụ khác nhau. Nếu kết quả lần đầu trả về là an toàn, nhưng bạn vẫn chưa chắc chắn lắm thì chọn đường dẫn View downloaded file analysis phía bên trên:
Đây là kết quả chi tiết của cuộc kiểm tra vừa rồi:
Kết quả kiểm tra tương ứng từ các công cụ sẽ khác nhau, có vài trường hợp nhầm lẫn sẽ xảy ra. Bạn nên để ý đến kết quả của các chương trình nổi tiếng như Kaspersky, BitDefender, Avira... nếu là an toàn thì hãy an tâm với kết quả thu được:
Bên cạnh đó, VirusTotal cũng hiển thị thông báo với người sử dụng rằng đường dẫn URL hoặc file đó đã được quét. Bạn có thể chọn Reanalyze – phân tích lại hoặc View last report để xem chi tiết báo cáo:
Tích hợp VirusTotal với Firefox

Nếu bạn đang sử dụng Firefox thì plugin VTZilla là 1 tiện ích không thể bỏ qua với nhiều tính năng đơn giản và rất hiệu quả:
Sau khi cài đặt xong, bạn sẽ thấy thanh toolbar VirusTotal trên Firefox. Người sử dụng có thể gõ địa chỉ trực tiếp hoặc file hash vào ô tìm kiếm để rà soát với VirusTotal, hoặc nhấn Scan current site để chắc chắn rằng những địa chỉ đó không có chứa mã độc hoặc các phần mềm nguy hiểm khác. Nếu không muốn sử dụng thanh toolbar này, đơn giản chỉ cần kích chuột vào thanh công cụ và bỏ dấu check tại dòng VirusTotal Toolbar:
 

Và 1 trong những chức năng tiện lợi nhất là quét các đường dẫn URL với 1 thao tác kích chuột duy nhất, bạn chỉ cần chọn đường link cần kiểm tra, kích chuột phải và chọn Scan with VirusTotal:

VirusTotal sẽ mở thêm 1 tab mới và tiến hành phân tích, kiểm tra đường URL đó, đồng thời chương trình cũng mở cửa sổ popup để tự phân tích những file có liên quan:

 
Với những gì VirusTotal cung cấp cho người sử dụng thì đây quả thực là 1 ứng dụng bảo mật không thể thiếu khi truy cập Internet. Bên cạnh đó, bạn hãy luôn đề cao tinh thần cảnh giác với các loại mã độc, virus, trojan phát triển và cập nhật từng ngày bằng việc trang bị cho hệ thống những phương pháp an ninh tốt nhất có thể. Chúc các bạn thành công!
T.Anh (theo HowToGeek)

Download video từ các website chia sẻ

Có nhiều cách để download video từ các website chia sẻ, đặc biệt là từ Youtube. Tuy nhiên, vừa download, vừa chuyển đổi định dạng, lại hỗ trợ download đồng thời nhiều file thì không phải phần mềm hay công cụ nào cũng có thể làm được.
Sử dụng phần mềm Internet Download Manager, bạn có thể dễ dàng download mọi định dạng video từ website. Tuy nhiên, IDM lại là phần mềm có thu phí. Nếu bạn muốn một phần mềm miễn phí có thể thực hiện điều tương tự, ClipGrab là một giải pháp.

ClipGrab là phần mềm miễn phí, không chỉ cho phép người dùng download video từ các website chia sẻ hàng đầu hiện nay, mà còn cho phép xuất raf ile video download được dưới nhiều định dạng khác nhau, thuận tiện cho việc sử dụng sau khi download.

Download phần mềm tại đây.

Trong quá trình cài đặt, tại bước 3, phần mềm sẽ yêu cầu người dùng cài đặt thêm thanh công cụ của phần mềm. Bạn nên chọn ‘ClipGrab Installation without Toolbar’ để bỏ qua thanh công cụ này.
 

Sau khi cài đặt, biểu tượng của phần mềm sẽ xuất hiện trên khay hệ thống.
 
Sử dụng phần mềm khá đơn giản, bạn chỉ việc copy đường link của trang web có chứa đoạn video cần download, dán đường link này vào khung ở trên giao diện chính của phần mềm.
 

Ở phần tùy chọn bên dưới, bạn có thể chọn định dạng của file video download được (ở mục Format, nếu muốn, bạn chọn định dạng MP3 để lưu lại dưới dạng file âm thanh, điều này hữu ích trong trường hợp bạn muốn download nhạc từ Youtube để nghe trên máy nghe nhạc hoặc điện thoại).

Mục Quality để chọn chất lượng file video. Chất lượng càng cao thì dung lượng file download được sẽ càng lớn. Tùy thuộc vào mục đích sử dụng để chọn chất lượng và dung lượng cho phù hợp.

Nhấn nút ‘Grab this Clip!’, một hộp thoại hiện ra để đặt tên và chọn đường dẫn để lưu file video. Chọn vị trí rồi nhấn nút Save để bắt đầu quá trình download.
 

Trong khi quá trình download file đang diễn ra, bạn có thể tiến hành tương tự để download đồng thời nhiều file, thay vì phải chờ đợi để download lần lượt từng file.
 

Trong trường hợp muốn lưu toàn bộ các file video download được vào một thư mục cố định để bỏ qua bước chọn vị trí lưu file, bạn chọn tab Settings trên giao diện chính phần mềm. Tại tab Target Path, nhấn nút Browser để đánh dấu vị trí lưu file sau khi download và đánh dấu vào tùy chọn ‘Never ask for file name’.
 
 

Với việc hỗ trợ chuyển nhiều định dạng file, những file video sau khi download có thể được sử dụng trên máy tính hoặc trên các thiết bị giải trí, máy nghe nhạc…

Hiện nay, trên lý thuyết ClipGrab hỗ trợ download video từ các website: YouTube, Clipfish, Collegehumor, Dailymotion, MyVideo, MySpase, Sevenload, Tudou, Vimeo.
Tuy nhiên, đó chỉ là trên lý thuyết, với video từ các website khác, bạn vẫn có thể thử dán đường link vào ClipGrab để kiểm tra xem phần mềm có khả năng nhận diện và download hay không. Nếu có, bạn vẫn có thể tiến hành download như bình thường.

Với tính năng hỗ trợ download đồng thời nhiều file, phần mềm là công cụ đắc lực cho những ai thường xuyên download video từ các dịch vụ chia sẻ, đặc biệt là download từng phần nhỏ của 1 bộ phim dài mà không cần phải chờ đợi và download lần lượt.

Phạm Thế Quang Huy

9.24.2010

Thiết lập hệ thống mạng Wifi sử dụng chuẩn mã hóa WPA/WPA2

Trong bài viết sau, Quản Trị Mạng sẽ hướng dẫn các bạn cách thiết lập mô hình mạng Wifi sử dụng giao thức WPA/WPA2 và khả năng xác nhận trong 1 khoảng cách nhất định. Lưu ý rằng bài viết này chỉ đề cập đến những vấn đề và khía cạnh đơn giản của hệ thống mạng này dựa trên CIITIX-WiFi – 1 dự án khá mới mẻ và ít người biết đến. Tại thời điểm bài viết này, dự án vẫn đang trong phiên bản 1.1


Yêu cầu sơ bộ

Các bạn cần tải file ISO và chuẩn bị để cài đặt, truy cập vào trang chủ của CIITIX-WiFi.
Cần có thiết bị access point hoặc wireless router hỗ trợ chuẩn WPA/WPA2.
Các kiến thức cơ bản về hệ thống mạng và phần cứng. Tại bài thử nghiệm này, chúng tôi sử dụng VMWare ESXi server, 1 vCPU, 1 vHDD (4gb) và Ram 768 MB.

Bắt đầu

Tải file ISO download bên trên về máy tính, ghi ra đĩa CD và boot từ đĩa đó. Lưu ý rằng quá trình cài đặt và thiết lập này sẽ xóa toàn bộ dữ liệu trên ổ cứng.

Khi boot từ ổ đĩa CD, chọn Start GUI Install, nhấn Enter và bạn sẽ thấy màn hình tiếp theo như sau:
Chọn ngôn ngữ hiển thị tại bước tiếp theo:
Chọn tiếp vị trí địa lý:
Điều chỉnh giá trị host name cho hệ thống, nếu không muốn thì để là debian cho dễ nhớ:
Thiết lập giờ hệ thống và vùng múi giờ:
Lựa chọn phân vùng ổ cứng để cài đặt - Guided - use entire disk:
Và chọn đúng phân vùng bạn muốn:
Và chọn tiếp All files in one partition:

Tiếp theo Finish partitioning and write changes to disk:
Chọn tiếp Yes – quá trình này sẽ xóa sạch dữ liệu trên ổ đĩa:
Và chờ cho quá trình này kết thúc:
Sau đó, hệ thống sẽ yêu cầu bạn khai báo tên tài khoản và mật khẩu quản trị (đây là mật khẩu root):
Chọn Yes để cài đặt GRUB boot loader lên ổ cứng:
Khi đến màn hình này nghĩa là quá trình cài đặt đã hoàn thành:
Tại bước này, server xác nhận khoảng cách truy cập đã được cài đặt thành công và khởi động lại. Khi khởi động xong, các địa chỉ IP của các máy khác sẽ được liệt kê trong danh sách, qua đó chúng ta có thể quản trị và thực hiện các thao tác khác.

Khi hệ thống khởi động lại, đăng nhập vào máy tính với tài khoản root và mật khẩu khai báo lúc trước:
Chọn JWM > Terminal, cửa sổ dòng lệnh hiện ra, bạn gõ lệnh sau:
ifconfig
Nhấn Enter, chương trình sẽ hiển thị toàn bộ thông tin của card mạng trên hệ thống. Tại đây là eth0 với địa chỉ IP 192.168.0.15 – tại dòng inet addr:
Quá trình quản trị hệ thống được thực hiện hoàn toàn qua trình duyệt. Mô hình này còn hỗ trợ chia sẻ và cùng xem các hoạt động diễn ra trên trang web qua mạng local. Ở chế độ mặc định, chúng ta không thể sử dụng được chức năng này. Tất cả những gì cần làm là chỉnh sửa lại file cấu hình /etc/apache2/apache2.conf tại dòng 290:
Allow from all
Tại đây, chúng ta cần ứng dụng hỗ trợ tên là WinSCP và cài trên máy tính con sử dụng hệ điều hành Windows. Sau khi download và cài đặt thành công, thực hiện theo những bước sau:

 - Nhấn New

 - Điền vào đó những thông tin như sau:
      host name = địa chỉ IP của máy tính
      user name = root
      password = mật khẩu khai báo tại bước trên

 - Save

 - Tiếp theo, nhấn Login

 - Kích đúp vào thư mục có biểu tượng 2 dấu chấm trong danh sách:
 - Và mở các thư mục theo thứ tự sau: etc - apache2 - apache2.conf

 - Chương trình sẽ mở file cấu hình apache2.conf, di chuyển đến dòng 290 và thay đổi lại như sau:
      Allow from all
 - Lưu lại thay đổi và đóng cửa sổ chương trình

 - Mở chương trình WinSCP > Commands > open terminal hoặc nhấn phím tắt Crtl+T, copy và paste dòng lệnh sau, sau đó nhấn execute:
      /etc/init.d/apache2 restart 

 - Quá trình này sẽ khởi động lại toàn server và tải lại toàn bộ thiết lập từ file cấu hình vừa chỉnh sửa, qua đó tất cả các truy cập qua web có thể được thực hiện từ bất cứ nơi nào trên mạng local.

 - Khởi động trình duyệt và trỏ tới địa chỉ IP của hệ thống (thay thế giá trị 192.168.0.15 với địa chỉ IP của bạn):
      192.168.0.15/daloradius 

 - Trang đăng nhập hiển thị, mặc định tài khoản quản trị với tên đăng nhập administrator, mật khẩu radius. Nếu các thao tác bên trên không chuẩn xác thì bạn sẽ gặp thông báo lỗi sau:
 - Thực hiện theo các bước sau để thiết lập tài khoản người dùng và thiết bị NAS. Chọn management > user > new user, điền username và password tùy chọn. Chọn loại mật khẩu tương ứng là Cleartext-Password và nhấn Apply:
 - Chọn tiếp Management > NAS > new NAS, điền địa chỉ IP của thiết bị access point hoặc router (ở đây là 192.168.0.1).
- Tiếp theo, tạo mật khẩu trong phần NAS Secret.

 - Chọn NAS Type = other (nếu sử dụng các thiết bị access point của Cisco thì chọn loại khác)
Điền tên rút gọn cho thiết bị, ở đây là dlinkap:
 - Khi thực hiện xong bước này, đăng nhập vào access point hoặc router và thiết lập để sử dụng authentication server.

 - Ảnh chụp màn hình dưới đây được lấy từ thiết bị access point D-Link DAP-1150. Quá trình cấu hình như với bình thường, các bạn chỉ cần chú ý đến tính năng sử dụng WPA hoặc WPA2 enterprise và chỉ định radius server rõ ràng. Thông số radius server IP là địa chỉ IP của CIITIX-WiFi server, địa chỉ cổng mặc định là 1812:
  - Và bây giờ chúng ta cần xác nhận 1 bản copy chứng nhận - certificate để các máy trạm sử dụng khi đăng nhập. Khởi động WinSCP và trỏ tới /etc/freeradius/certs/client-certificates. Tại dây bạn sẽ thấy 2 file tại đây, copy 2 file này ra desktop (các bạn nên lưu lại 2 file này vào thiết bị lưu trữ USB nào đó để sử dụng trên các máy trạm sau này):
 - Với Windows 7, bạn chỉ cần kích đúp vào file này để cài đặt theo quy trình mẫu có sẵn.
Cài đặt chúng lần lượt với trusted root certificates theo cách tương tự của Windows Vista hoặc XP. Và sau đó, mỗi khi bạn kết nối Wireless, hệ thống sẽ yêu cầu mật khẩu sử dụng. Điền tên đăng nhập và mật khẩu mà bạn tạo ra lúc trên, password dành cho certificate trong lúc cài đặt ciitixwifi.

 - Trên từng máy trạm, bạn cài đặt certificate bằng cách kích đúp vào file đó và chọn Open > install certificate > next > place all in following store > browse > trusted root certification > ok > next > finish như hình sau:
 - Tiếp tục, kích đúp vào file còn lại server certificate > next > next > điền mật khẩu ciitixwifi > next > place all in following store > browse > trusted root ca > ok > next > finish. Như vậy là đã hoàn chỉnh những khâu cơ bản, mỗi khi người sử dụng kết nối vào mạng wifi, hệ thống sẽ yêu cầu nhập tài khoản từ certificate như sau:
 - Windows sẽ có hiện tượng lạ khi bạn sử dụng certificate lần đầu tiên. Điều này là hết sức bình thường vì hệ thống sẽ không yêu cầu lại lần thứ 2. Nguyên nhân chính có thể là do chương trình tự nhận certificate từ server CIITIX-WiFi. Đối với các thiệt bị khác như Iphone và Ipad thì chúng đã có sẵn những certificate này rồi, và do đó bạn không cần phải cài đặt như trên Windows. Đối với người dùng Linux cũng cần cài đặt và áp dụng certificate, nhưng một số distro khác như Linux Mint – dựa trên nền tảng Ubuntu thì quá trình này rất đơn giản, chỉ cần kích đúp vào file certificate đó, hệ thống sẽ hiển thị hướng dẫn như của Windows. Đối với 1 số thiết bị khác sử dụng hệ điều hành nhúng bên trong như Nintendo Wii có thể sẽ không tương thích với mô hình Enterprise Authentication này.

T.Anh-Quantrimang (theo HowToForge)