About The Author

Sharing Tutorials on Using Computers, Basic, Simple and Easy Tips on Using Internet, Tricks and Techniques That I've Learnt Thus Far.

Email subscription

Pages

Showing posts with label antivirus. Show all posts
Showing posts with label antivirus. Show all posts

12.07.2010

Khắc phục kết nối Internet sau khi bị nhiễm virus

Đây là trường hợp thường gặp phổ biến nhất của những máy tính đã và sau khi bị nhiễm virus. Ngay cả khi đã loại bỏ hoàn toàn được virus ra khỏi hệ thống, bạn vẫn không thể kết nối Internet. Chúng ta sẽ phải làm gì? Format toàn bộ ổ cứng và cài lại hệ điều hành? Các bạn hãy áp dụng những phương pháp cơ bản sau để khắc phục tình trạng đó.

Cách 1:

Bỏ dấu check tại mục proxy trong Internet Explorer. Một số loại virus sẽ trỏ các kết nối từ máy tính trực tiếp đến server của chúng, và bạn nên thực hiện bước này trước khi quét mã độc trên toàn bộ máy tính. Mở Internet Explorer và chọn Tools > Internet Options > Connection Settings > LAN Settings:

Bỏ dấu check tại lựa chọn Proxy server và nhấn OK.

Cách 2:

Mặt khác, cac bạn có thể áp dụng cách reset lại toàn bộ các thiết lập của trình duyệt, ví dụ ở đây là Internet Explorer. Các bước thực hiện như sau:

 - Tắt tất cả các chương trình, ngoại trừ Internet Explorer

 - Nhấn tổ hợp phím WinKey + R, và gõ inetcpl.cpl

 - Tại thẻ Advanced Tab, ở phía dưới là lựa chọn Resent Internet Explorer Settings, nhấn Reset và OK. Sau đó khởi động lại Internet Explorer:
Cách 3:

Tại bước này, chúng ta sẽ tiến hành reset lại file Windows Hosts. Thực chất, file này chứa tất cả các mapping – gọi đơn giản là “bản đồ”, của các website cho tới địa chỉ IP trên Internet, và Windows sử dụng file này để trỏ trình duyệt tới đúng địa chỉ website đó trên Internet. Và cũng theo cách thức như vậy, virus đã len lỏi và thay đổi nội dung của file này, qua đó người sử dụng sẽ kết nối thẳng đến những địa chỉ độc hại đã được chuẩn bị sẵn. Các bạn hãy chỉnh sửa lại fil Windows Hosts theo cách sau:

 - Nhấn WinKey + R và gõ %systemroot%\System32\drivers\etc vào ô Run.
 - Đổi tên file hosts thành hosts.bak
 - Tạo mới 1 file text bằng NotePad với nội dung như sau:

# Copyright (c) 1993-1999 Microsoft Corp.
#
# This is a sample HOSTS file used by Microsoft TCP/IP for Windows.
#
# This file contains the mappings of IP addresses to host names. Each
# entry should be kept on an individual line. The IP address should
# be placed in the first column followed by the corresponding host name.
# The IP address and the host name should be separated by at least one
# space.
#
# Additionally, comments (such as these) may be inserted on individual
# lines or following the machine name denoted by a '#' symbol.
#
# For example:
#
# 102.54.94.97 rhino.acme.com # source server
# 38.25.63.10 x.acme.com # x client host

127.0.0.1 localhost


Sau đó lưu đè lên file hosts cũ của Windows

Cách 4:

Tiếp theo, các bạn có thể sử dụng Winsock để “làm sạch” toàn bộ các thiết lập kết nối Internet. Chương trình hoàn toàn miễn phí, dễ sử dụng và hiệu quả rất cao. Phiên bản Winsock dành cho Windows XP được download tại đây, còn với Windows Vista hoặc Wins 7, các bạn hãy áp dụng cách thủ công sau đây:

 - Sử dụng Command Prompt (Winkey + R và gõ cmd), gõ lệnh sau:

      netsh winsock reset catalog
      netsh int ip reset reset.log hit

 - Sau đó khởi động lại máy tính.

Trên đây là những cách cơ bản và đơn giản nhất để khắc phục tình trạng không thể kết nối Internet sau khi máy tính bị nhiễm virus. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hệ thống, các chuyên gia an ninh mạng đã khuyến cáo người sử dụng nên mua bản quyền của những chương trình bảo mật như Kaspersky, Norton, BitDefender, Panda, Avira... các sản phẩm này hiện đã có sẵn trên gian hàng trực tuyến của công ty cổ phần mạng trực tuyến Meta. Chúc các bạn thành công! 



T.Anh (theo RemoveVirus)

12.04.2010

Cách tránh Malware

Malware là thuật ngữ mô tả một phạm trù tương đối rộng cho các phần mềm phá hoại gồm có virus, worm, trojan horse, rootkit, spyware và adware. Sự ảnh hưởng của malware trải rộng từ đơn giản như cảm giác bực mình đến làm sập máy tính và cao hơn nữa là hiện tượng đánh cắp nhận dạng. Malware quả thực dễ tránh hơn là gỡ bỏ nó. Việc tránh malware thường là một chiến lược gồm có hai phần.  

Ngăn chặn malware qua hành vi Online trực tuyến
Hệ số lớn nhất trong việc ngăn chặn sự tiêm nhiễm malware trên máy tính chính là ở bạn. Bạn không cần phải có kiến thức như một chuyên gia hay cần đào tạo đặc biệt mà chỉ cần có sự thận trong trong việc download và cài đặt mọi thứ bạn không hiểu hay không tin tưởng từ các nguồn sau:
Từ một website: Nếu không chắc chắn, hãy rời site và nghiên cứu phần mềm mà bạn đang nhận được yêu cầu cài đặt. Nếu tất cả OK, bạn có thể quay trở lại site và cài đặt nó. Nếu bất ổn, bạn sẽ tránh được những rắc rối từ malware.
Từ email: Không tin tưởng bất cứ thứ gì có liên quan với spam e-mail. Lưu ý khi nhận email từ những người mà bạn biết đặc biệt là các liên kết hay đính kèm. Nếu bạn nghi ngờ những gì mình được yêu cầu xem hoặc cài đặt, không thực hiện theo xúi giục đó.
Từ môi trường vật lý: Bạn bè, gia đình và đồng nghiệp có thể vô tình đưa cho bạn một đĩa CD hay một USB có chứa file bị tiêm nhiễm malware. Không mù quáng chấp nhận các file này; hãy quét chúng bằng phần mềm bảo mật. Nếu bạn vẫn chưa chắc chắn, không chấp nhận các file này.
Từ cửa sổ bật ra: Một số cửa sổ pop-up thường mời bạn download phần mềm hoặc thực hiện hành vi quét miễn phí hệ thống. Thông thường các pop-up sẽ sử dụng các mẹo để khiến bạn tin tưởng bạn cần những gì họ đang cung cấp để có được sự an toàn. Hãy đóng các pop-up mà không kích vào bất cứ thứ gì bên trong nó (gồm có cả dấu X ở góc cửa sổ). Đóng cửa sổ thông qua Windows Task Manager (nhấn Ctrl-Alt-Delete).
Từ một mẩu phần mềm khác: Một số chương trình thường cố gắng cài đặt malware như một phần của quá trình cài đặt của chúng. Khi cài đặt phần mềm, hãy thật sự chú ý đến các hộp thông báo trước khi kích Next, OK hoặc I Agree. Nếu bạn không chắc chắn, hãy hủy bỏ cài đặt, kiểm tra chương trình và chạy cài đặt lại nếu bạn phát hiện nó hoàn toàn an toàn.
Từ các dịch vụ chia sẻ file bất hợp pháp: Bạn sẽ phải là chính mình trong lĩnh vực này. Có khá ít sự kiểm soát chất lượng trong thế giới phần mềm bất hợp pháp và vì vậy rất có thể tấn công sẽ được thực hiện qua một mẩu phần mềm malware đi kèm sau một bộ phim hay, một album thú vị hay một chương trình nào đó mà bạn download nó.
Gỡ bỏ Malware bằng phần mềm thích hợp
Dù bạn có cẩn thận đến đâu thì rất có thể một ngày nào đó bạn cũng sẽ bị tiêm nhiễm. Đó là vì malware được thiết kế để lẻn vào máy tính của bạn theo rất nhiều cách mà bạn không thể đoán trước. Chính vì vậy hãy tranh thủ sự trợ giúp từ các phần mềm dưới đây:
Nâng cấp hệ điều hành: Sử dụng Windows Update. Lợi dụng khả năng này để tự động thông báo cho bạn các nâng cấp hay thậm chí tốt hơn nữa là thiết lập tự động download và cài đặt các nâng cấp.
Nâng cấp trình duyệt: Dù bạn có sử dụng trình duyệt nào đi chăng nữa, việc giữ cập nhật mới trình duyệt sẽ ngăn chặn được sự tiêm nhiễm. Hãy sử dụng chức năng khóa cửa sổ pop-up của trình duyệt, màn hình download và các tính năng nâng cấp tự động.
Phần mềm chống virus: Bạn phải chạy phần mềm chống virus để được an toàn. Tuy nhiên cần phải cập nhật nó một cách liên tục, bật phần mềm và lập lịch trình hành động quét tối thiểu một tháng một lần. (Chú ý không chạy hai phần mềm chống virus cùng lúc vì chúng có thể xung đột lẫn nhau).
Anti-malware: Cũng được biết đến như anti-spyware, nhiều ứng dụng antivirus cũng chứa thành phần anti-malware. Nếu trong chương trình của bạn không có chức năng này, hãy cài đặt và sử dụng một chương trình anti-malware độc lập không bị xung đột với chương trình antivirus mà bạn đang chạy. Sau đó cập nhật nó một cách thường xuyên.
Firewall: Nếu bạn không sử dụng tường lửa của hãng thứ ba, hãy sử dụng Windows Firewall. (Không chạy cùng lúc hai phần mềm vì nó có thể xung đột lẫn nhau).
Lọc spam: Nếu chương trình email của bạn không lọc spam tốt trong inbox, hãy xem xét đến một phần mềm lọc spam chuyên dụng khác. Còn nếu phần mềm bảo mật của bạn là một bộ bảo mật hoàn chỉnh, khi đó bạn cần bật chức năng lọc spam có sẵn bên trong nó.
Văn Linh (Theo Pcworld)

11.25.2010

Add-on mới của Firefox bảo vệ bạn khỏi hacker Firesheep

Nếu bạn lo lắng không dám sử dụng mạng Wi-Fi công cộng chỉ vì Firesheep, công cụ hack rất phổ biến hiện nay, bạn nên thử dùng BlackSheep, một add-on của Firefox giúp bạn lướt Web an toàn khi dùng mạng công cộng.
"Cừu đen" giúp ngăn chặn "Cừu lửa"
Firesheep xuất hiện cách đây chưa lâu. Nó là một đoạn code cho phép bất kỳ ai cũng có thể truy cập tài khoản web của bạn thông qua việc đột nhập vào các phiên làm việc.
Về cơ bản, bất kỳ ai lướt web thông qua các kết nối internet không đặt password, ví dụ như mạng Starbucks hay thậm chí ở trên máy bay, đều trong tình trạng dễ dàng bị "người lạ" sử dụng các tài khoản quan trọng.
Một vấn đề liên quan là là sử dụng VPN thông qua mạng công cộng. Nhưng ta đều biết với những người sử dụng internet thông thường, càng tránh những điều rắc rối phức tạp càng tốt, và hầu hết mọi người đều quan tâm tới sự tiện lợi hơn là việc bảo mật.
Vì lý do đó, chúng ta rất vui mừng khi thấy hãng bảo mật theo công nghệ đám mây Zscaler đã phát hành một add-on Firefox có thể cảnh báo người sử dụng nếu có ai đó trong cùng mạng sử dụng Firesheep.
Sử dụng add-on này, bạn sẽ cảm thấy an toàn hơn khi sử dụng internet ở bất kỳ mạng công cộng nào và chỉ cần có những biện pháp ngăn chặn khi cần thiết.
Cách thức làm việc của BlackSheep như sau: do việc bắt gói tin của Firesheep không thể làm được, nhưng BlackSheep có thể phát hiện các yêu cầu lấy thông tin của website ví dụ như trang Facebook sử dụng cookie của Firesheep. BlackSheep phát hiện cơ chế hoạt động của Firesheep bằng cách cứ 5 phút lại tạo ra các yêu cầu với các thông số giả mạo tới các website có sẵn một cách ngẫu nhiên tới Firesheep (bạn có thể điều chỉnh thời gian theo ý muốn)
Nếu bất kỳ ai ở trên mạng bắt đầu sử dụng cùng các thông số giả mạo để tạo ra các yêu cầu, BlackSheep sẽ biết ai trên mạng sử dụng Firesheep, và bạn sẽ nhận được một cảnh báo ở tab hiện thời.
BlackSheep được viết dựa trên mã nguồn của Firesheep nên chắc chắn add-on này hoạt động hiệu quả. Có thể nói, trong mọi cuộc tấn công, luôn có một sự cân bằng giữa bên "phá" và bên "chống".
Bạn có thể lấy Blacksheep miễn phí từ website của Zscaler.
Theo CNN

11.01.2010

Cách download an toàn từ internet

Bạn luôn cảm thấy lo lắng khi download file bất kỳ từ Internet về máy tính? Người sử dụng sẽ không thể chắc chắn được họ đang tải ứng dụng tốt hay xấu về hệ thống? Làm thế nào để mọi người có thể nhận biết và tránh xa các hiểm họa này? Khi áp dụng cách này thì chỉ áp dụng với các file đã tải về máy tính, bạn muốn chắc chắn hơn nữa? Hãy sử dụng dịch vụ trực tuyến của VirusTotal.

Với hơn 40 công cụ bảo mật kết hợp của các hãng khác nhau, VirusTotal có thể coi là dịch vụ an ninh trực tuyến tốt nhất hiện nay. Khi muốn kiểm tra tình trạng của 1 đường dẫn bất kỳ nào đó, hãy copy địa chỉ URL đó:
và paste vào thẻ Submit a URL của VirusTotal.com, sau đó nhấn nút Submit URL:
VirusTotal sẽ tiến hành phân tích, sàng lọc và phân loại các tín hiệu an toàn và nguy hiểm thu thập được từ những công cụ khác nhau. Nếu kết quả lần đầu trả về là an toàn, nhưng bạn vẫn chưa chắc chắn lắm thì chọn đường dẫn View downloaded file analysis phía bên trên:
Đây là kết quả chi tiết của cuộc kiểm tra vừa rồi:
Kết quả kiểm tra tương ứng từ các công cụ sẽ khác nhau, có vài trường hợp nhầm lẫn sẽ xảy ra. Bạn nên để ý đến kết quả của các chương trình nổi tiếng như Kaspersky, BitDefender, Avira... nếu là an toàn thì hãy an tâm với kết quả thu được:
Bên cạnh đó, VirusTotal cũng hiển thị thông báo với người sử dụng rằng đường dẫn URL hoặc file đó đã được quét. Bạn có thể chọn Reanalyze – phân tích lại hoặc View last report để xem chi tiết báo cáo:
Tích hợp VirusTotal với Firefox

Nếu bạn đang sử dụng Firefox thì plugin VTZilla là 1 tiện ích không thể bỏ qua với nhiều tính năng đơn giản và rất hiệu quả:
Sau khi cài đặt xong, bạn sẽ thấy thanh toolbar VirusTotal trên Firefox. Người sử dụng có thể gõ địa chỉ trực tiếp hoặc file hash vào ô tìm kiếm để rà soát với VirusTotal, hoặc nhấn Scan current site để chắc chắn rằng những địa chỉ đó không có chứa mã độc hoặc các phần mềm nguy hiểm khác. Nếu không muốn sử dụng thanh toolbar này, đơn giản chỉ cần kích chuột vào thanh công cụ và bỏ dấu check tại dòng VirusTotal Toolbar:
 

Và 1 trong những chức năng tiện lợi nhất là quét các đường dẫn URL với 1 thao tác kích chuột duy nhất, bạn chỉ cần chọn đường link cần kiểm tra, kích chuột phải và chọn Scan with VirusTotal:

VirusTotal sẽ mở thêm 1 tab mới và tiến hành phân tích, kiểm tra đường URL đó, đồng thời chương trình cũng mở cửa sổ popup để tự phân tích những file có liên quan:

 
Với những gì VirusTotal cung cấp cho người sử dụng thì đây quả thực là 1 ứng dụng bảo mật không thể thiếu khi truy cập Internet. Bên cạnh đó, bạn hãy luôn đề cao tinh thần cảnh giác với các loại mã độc, virus, trojan phát triển và cập nhật từng ngày bằng việc trang bị cho hệ thống những phương pháp an ninh tốt nhất có thể. Chúc các bạn thành công!
T.Anh (theo HowToGeek)

10.09.2010

Mẹo nhỏ giúp phát hiện dấu hiệu của malware

..
Nếu bạn vừa mới trải qua một vụ tấn công của malware, bạn sẽ biết được tính chất nguy hiểm của nó như thế nào. Xóa bỏ sự lây lan của mã độc do malware lây nhiễm trên máy tính của bạn càng nhanh càng tốt sẽ ngăn chặn malware có thêm bất kì một hành động phá hoại nào hoặc lây nhiễm tới máy tính khác. Những mẹo nhỏ dưới đây sẽ giúp bạn phát hiện ra dấu hiệu của sự lây nhiễm malware.

1: Phần mềm
Đây là phương pháp được dùng nhiều nhất. Ngày nay, có rất nhiều ứng dụng chống malware trên thị trường và lựa chọn chúng cũng chủ quan giống như khi bạn chọn phần mềm diệt virus. Bạn có thể chọn các công cụ như Malwarebytes hoặc Spybot Search and Destroy. Ngoài ra, cũng có một số phần mềm diệt virus có khả năng quét cả virus và malware (ví như Ashampoo Magical Security 2). Một trong những vấn đề bạn có thể phải đối mặt với các công cụ chống malware là nó thiếu khả năng quét tại thời điểm thực. Vì lý do này, bạn sẽ phải chắc chắn rằng người dùng cuối của mình thực hiện quét thường xuyên để có thể dò tìm ra các lây nhiễm. Khi người dùng sao nhãng việc quét máy tính, không chỉ malware có thể gây rắc rối, rất nhiều loại malware khác cũng sẽ có cơ hội lây lan trên máy tính của bạn.
2: Máy tính chậm
Malware có tiếng trong việc khiến máy tính chạy chậm, ảnh hưởng tới kết nối mạng hoặc tốc độ của các ứng dụng được dùng. Tất nhiên, chỉ một lý do chậm không có nghĩa rằng máy tính của bạn bị malware quấy nhiễu. Do có rất nhiều nguyên nhân khác có thể khiến máy tính của bạn chạy chậm, bạn nên thực hiện một số bước giúp “điều trị” căn bệnh chạy chậm của máy tính (ví như chạy chống phân mảnh ổ đĩa, thêm RAM,…). Nếu máy tính vẫn chạy chậm sau khi bạn thực hiện những bước cần thiết trên, có thể máy tính của bạn đã bị nhiễm malware.
3: Pop-ups
Một nguyên nhân “tiềm năng” có thể là dấu hiệu của malware là cửa sổ Pop-up. Những cửa sổ Pop-up không mong muốn (đặc biệt là những cửa sổ hiển thị khi một trình duyệt không được mở) chắc chắn là dấu hiệu của lây nhiễm malware. Vấn đề nằm ở chỗ chúng không thể thường xuyên loại bỏ ở chế độ chuẩn. Trong những trường hợp như vậy, máy tính cần khởi động ở chế độ Safe Mode. Với hầu hết các loại malware, bạn đều cần tới sự trợ giúp của một phần mềm diệt malware mạnh mẽ giúp loại bỏ hoàn toàn chúng.
4: Thay đổi trang chủ hoặc đường link Google
Nếu trang chủ chính của một trình duyệt thay đổi mà không có sự tác động của người dùng, rất có khả năng có sự tác động của malware. Điều tương tự cũng đúng khi bạn tìm kiếm một vấn đề trên Google, kích vào một đường link do Google cung cấp nhưng lại bị dẫn tới một đường link ngẫu nhiên nào đó. Nếu bạn thấy những việc này xảy ra, có nghĩa là bạn đã “dính” malware hoặc lây nhiễm virus.
5: Trình duyệt ngoại tuyến
Nếu bạn không thể truy cập Internet bằng trình duyệt của mình mặc dù biết được kết nối mạng vẫn hoạt động (kiểm tra bằng cách Ping tới một địa chỉ là cách dễ dàng nhất để biết được điều này), có thể bạn đã “dính” lây nhiễm malware. Để có thể chắc chắn hơn vấn đề này, hãy vào cài đặt kết nối mạng của trình duyệt để chắc chắn rằng bạn không đặt một Proxy nào (mà không cần tới hỗ trợ của phòng IT của công ty). Sau khi kiểm tra và biết được bạn không sử dụng một Proxy nào, có nghĩa rằng bạn đã bị lây nhiễm malware.
Như vậy là chúng tôi đã cung cấp cho bạn 5 thủ thuật giúp phát hiện xem có dấu hiệu của malware trên chiếc máy tính thân yêu của mình hay không. Dẫu vậy, chúng tôi vẫn khuyến cáo người dùng nên có một phần mềm diệt malware và diệt virus mạnh mẽ, hiệu quả. Chúng sẽ giúp bạn rất nhiều mỗi khi xuất hiện những loại mã độc này trên máy tính của bạn, khiến bạn có cảm giác trải nghiệm sử dụng máy an toàn hơn.

Tutsvnn's tip: có thể dùng cách thủ công như sau: tắt tất cả các chương trương trình đang chạy có kết nối với internet. Sau đó mở cmd ra gõ netstat -a -n. Nếu thấy có IP lạ đang kết  nối vào máy thì rất có thể máy của bạn đã dính chưởng
Lamle (Theo Techrepublic.com)

9.30.2010

Nơi đáng sợ và nguy hiểm nhất trên Internet

Liệu bạn có thể biết rằng đâu là nơi đáng sợ và nguy hiểm nhất trên Internet? Có thể bạn sẽ không ngờ đến, đôi khi nơi an toàn nhất lại là nơi nguy hiểm nhất. Trong bài viết sau, Quản Trị Mạng sẽ phân loại ra các khu vực dựa vào nhu cầu chủ yếu và thói quen truy cập của phần lớn người sử dụng, dựa vào đánh giá và kinh nghiệm của các chuyên gia bảo mật hàng đầu hiện nay.


Nói một cách trừu tượng, những bức ảnh của Jessica Alba cũng có thể là kẻ gây ra tội ác trên máy tính, những câu trả lời từ Google có thể giúp bạn giải đáp hầu hết các thắc mắc nhưng sẽ khiến nhiều người phải đau đầu. Những đoạn video clip để giải trí, thư giãn sẽ giúp bạn giải tỏa tâm lý nhưng cũng có thể gây ra sự mất ổn định trong hệ thống… tất cả đều có thể dẫn đến 1 hậu quả không thể lường trước.

Khi bước chân vào thế giới Internet, chắc chắn nhiều người đã tự trang bị cho mình các biện pháp phòng bị tốt nhất để tự bảo vệ bản thân, nhưng họ vẫn có thể rơi vào các cạm bẫy tinh vi của tin tặc bao gồm: những loại mã độc, nạn phishing, virus, spyware, malware… Vậy dựa vào đâu, những dấu hiệu nào để phân biệt nơi nào là an toàn hay không an toàn? Và thực tế, trên Internet, không phải tất cả các mối nguy hiểm đều đến từ các website. Tại sao lại như vậy? Rốt cuộc là như thế nào? Trong phần trình bày sau đây, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm và phân loại các mức nguy hiểm theo mức độ an toàn hoặc nguy hiểm:

 - Cấp độ 1: an toàn tuyệt đối
 - Cấp độ 2: khá an toàn
 - Cấp độ 3: cảm thấy nguy hiểm
 - Cấp độ 4: rất nguy hiểm
 - Cấp độ 5: đặc biệt nguy hiểm

1. Các file Flash có chứa mã độc có thể lây nhiễm vào máy tính của người sử dụng


Được xếp vào hàng cấp độ 3, chúng có ở khắp mọi nơi, ở hầu hết các website có sử dụng Flash (hầu hết tất cả các website hiện nay đều có Flash), và do vậy những website này dễ dàng trở thành mục tiêu của tin tặc. Nhưng mối nguy hiểm mà có thể rất ít người biết đến là khả năng kết hợp với cookies của Flash. Các cookies này là những mẩu dữ liệu rất nhỏ mà kẻ tạo ra chúng dùng để thu thập mọi thông tin liên quan khi người dùng tương tác với file Flash trên website. Và cũng giống như cookies thông thường, Flash cookies có thể theo dấu vết những website mà bạn ghé thăm. Khi tiến hành xóa bỏ toàn bộ cookies của trình duyệt, Flash cookies không hề mất đi mà vẫn còn tồn tại.

Để khắc phục, các bạn nên cập nhật đến các phiên bản Flash Player mới nhất của Adobe hoặc thiết lập thuộc tính của Flash Plug-in khi yêu cầu người dùng download bất kỳ Flash cookies nào.

2. Việc rút gọn các đường link sẽ dẫn đến các địa chỉ độc hại

Có thể dễ dàng nhận ra từ Twitter, những mối nguy hiểm bắt đầu từ đây được xếp hạng thứ 4 – rất nguy hiểm. Tin tặc đã bắt đầu “ưa thích” Twitter vì quá phụ thuộc vào việc rút ngắn các URL – thu gọn các đường dẫn “loằng ngoằng” từ hàng chục đến hàng trăm ký tự về 1 dạng đơn giản, dễ nhìn hơn với người sử dụng. Và cũng rất đơn giản để tin tặc dễ dàng chèn vào đây những đường dẫn giả mạo, từ đó dẫn người dùng đến với các chương trình Trojan ngụy trang khác.

Cách khắc phục đơn giản, nếu bắt buộc phải sử dụng, các bạn không nên trực tiếp click chuột vào những đường dẫn đó, thay vào người dùng có thể áp dụng các chương trình Twitter client như TweetDeck hoặc Tweetie dành cho Mac với chức năng kiểm tra đường URL thực sự trước khi người sử dụng quyết định mở đường dẫn đó hay không.

Chỉ sử dụng dịch vụ của các địa chỉ uy tín như Bit.ly với các bộ lọc ngăn chặn mã độc hoặc TinyURL – khá an toàn và phổ biến.

3. Các thông tin quảng cáo hoặc file đính kèm trong email cá nhân

Tiếp theo, chúng ta không thể không nhắc đến những mối nguy hiểm luôn rình rập ngay bên trong hòm thư email của mỗi người. Có thể xếp vào hàng thứ 3 – nguy hiểm, do tính chất phức tạp và thay đổi không ngừng của tội phạm mạng. Khi nghe qua, nhiều người sử dụng sẽ tặc lưỡi hoặc lắc đầu: chuyện nhỏ, chẳng có gì mới cả. Nhưng tại sao số người bị lừa đảo qua hình thức này vẫn tăng lên theo từng ngày? Do cách thức ngụy trang và sự phát triển của công nghệ quảng cáo, nhiều bức thư chào hàng được gửi đến chúng ta hàng ngày và dĩ nhiên, bạn đã quá quen với chúng. Cho tới khi 1 bức thư giống hệt như vậy (nhưng là tác phẩm của tin tặc) được gửi đến, bạn sẽ chẳng hề ngần ngại gì mà không click vào và xem. Chỉ khi để ý kỹ, bạn mới thấy được những điểm khác biệt nhất định (dễ nhận thấy nhất là địa chỉ của người gửi). Điển hình, chúng thường xuyên bắt chước các form mẫu của các hãng nổi tiếng, như Amazon, eBay, Paypal …

Để đảm bảo an toàn tuyệt đối, bạn chỉ nên mở những bức thư từ người thân, bạn bè, các tài khoản đã biết rõ. Với các email lạ, không nên mở hoặc click trực tiếp vào đường dẫn, file đính kèm trong đó, mà hãy truy cập thẳng vào website gốc.

4. Mã độc được “nhúng” trong các file video, ca nhạc hoặc phần mềm tải về

Quá phổ biến và thông dụng, mô hình mạng chia sẻ ngang hàng – torrent là nơi cung cấp vô vàn các tài nguyên công nghệ thông tin quý giá, và cũng là nơi phát tán các loại mã độc nguy hiểm nhất. Không phải vô lý mà chúng tôi xếp hạng mục này vào mức cao nhất – đặc biệt nguy hiểm. Ben Edelman - chuyên gia bảo mật, đã tiến hành 1 cuộc khảo sát và nghiên cứu nho nhỏ tại trường đại học kinh doanh Harvard, với kết quả là họ thường xuyên sử dụng website cung cấp torrent vì chúng hoàn toàn miễn phí (bằng cách so sánh đơn giản, rất nhiều trang web khiêu dâm dựa vào độ “bảo mật” khi người truy cập nghĩ rằng đây là nơi rất an toàn – thực tế thì hoàn toàn ngược lại), hơn nữa họ không hề xây dựng 1 mô hình phòng bị bảo mật nào cho hệ thống mạng: Các khách hàng sử dụng dịch vụ torrent, họ thực sự không muốn trả phí, so với lợi ích mà chúng mang lại – ông còn cho biết thêm.

Khi sử dụng torrent, các bạn cần chú ý tới số lượng seed và peer. Và để chắc chắn hơn nữa, hãy tránh xa các website cung cấp torrent này, hạn chế sử dụng các chương trình cr@ck, keygen, patch… nhưng nếu bắt buộc phải sử dụng, các bạn nên tiến hành trên hệ thống PC sao lưu để phòng tránh rủi ro cho hệ thống chính, chịu khó đọc và tham khảo các comment – bình luận của cộng đồng chia sẻ với từng file tương ứng, sử dụng các chương trình bảo mật uy tín, luôn cập nhật đầy đủ.

5. Mã độc luôn trong các bức hình “khiêu gợi”

Nơi cung cấp và phát tán hình thức này là những trang web khiêu dâm đã được hợp pháp hóa. Những website này từ trước đến nay vẫn có tiếng là không an toàn, nhưng sao lượng truy cập và số thành viên đăng ký vẫn cứ đông và tăng theo từng giờ ? Roger Thompson – trưởng nhóm nghiên cứu bảo mật từ AVG cho biết: “Không hề nghi ngờ gì khi bạn truy cập vào những trang web nguy hiểm mà không bị làm sao. Khi điều này trở thành thói quen, việc bạn bị tấn công và lây nhiễm chỉ còn là khoảng thời gian đếm ngược ngắn ngủi. Thật không may, nếu bạn tránh xa khỏi những website khiêu dâm thì cũng không thực sự an toàn, vì các trang web không mang nội dung đồi trụy cũng đang bị tấn công từng ngày, và bên cạnh đó, chúng sẽ được sử dụng làm “mồi” để thu hút các nạn nhân khác.”

Như đã đề cập đến ở trên, có rất nhiều trang web khiêu dâm hoạt động bình thường, như 1 ngành kinh doanh không thể thiếu … để thu hút và giữ chân lượng khách hàng khổng lồ. Thực tế cũng nói lên rằng, rất khó để có thể buộc tội các website khiêu dâm có nguồn gốc từ những nơi cung cấp và phát tán mã độc, chúng sử dụng các địa chỉ này để làm mồi thu hút lượng người truy cập.

Khi truy cập vào những website như vậy, người dùng cần thật cẩn thận với các file video tải về máy, hoặc các bộ giải mã codec video (sẽ được đề cập bên dưới) … hoặc sử dụng các công cụ hỗ trợ như LinkScanner của AVG và SiteAdvisor của McAfee sẽ dễ dàng phát hiện được đường dẫn, website chứa mã độc.
6. Các loại mã độc, Trojan ngụy trang dưới hình thức bộ giải mã – codec video

Loại hình này chủ yếu lây lan và bùng phát tại các website cho phép người dùng tải video trực tiếp hoặc qua mô hình chia sẻ ngang hàng. Được xếp vào mức thứ 4 – rất nguy hiểm, khi bạn xem 1 bộ phim hoặc đoạn video clip trực tuyến, website sẽ yêu cầu bạn cài đặt thêm 1 bộ giải mã – codec bất kỳ để có thể xem được. Và hầu hết các bộ giải mã này là an toàn (ví dụ như DivX), nhưng khi xem tại 1 số trang web ít tên tuổi, không phổ biến, đường dẫn đó sẽ tự động chuyển tới 1 nơi khác, và tại đây, bạn sẽ nhận được yêu cầu tải 1 loại codec riêng biệt – thực chất là mã độc.

Lựa chọn an toàn và tốt nhất dành cho bạn là chỉ nên xem video hoặc clip trên YouTube, Vimeo… và nếu muốn xem những chương mới nhất của các chương trình TV, hãy tham khảo và sử dụng dịch vụ của Hulu, TV.com, ABC.com, với iTunes để phục vụ cho mô hình mạng chia sẻ peer-to-peer.

7. Chức năng Geolocation: smartphone và các thiết bị khác có thể biết chính xác bạn đang ở đâu

Nếu muốn sử dụng chức năng tìm kiếm này, chắc chắn người dùng phải có thiết bị hỗ trợ – điển hình là smartphone. Tính năng này khá an toàn, nhưng chúng ta không thể không đề phòng đến những trường hợp xấu nhất có thể. Thị trường smartphone có thể nói vẫn chưa thực sự ổn định, và mối quan tâm ở đây là việc người dùng sử dụng hoặc lạm dụng chức năng này. Nhiều nhà phát triển cung cấp rất nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau cho dịch vụ này, song song với đó là không ít dịch vụ giả mạo. Ví dụ như 1 trò chơi được liệt kê trong danh sách của Android Market lại lạ 1 phần mềm gián điệp núp bóng dưới game Snake.

Gần đây nhất, Apple đã tiến hành cập nhật các chính sách bảo mật của mình để thay đổi cách thức quản lý dữ liệu trong iOS 4. Và bây giờ chính sách này sẽ có nội dung như sau: để cung cấp các dịch vụ dựa trên việc xác định vị trí của các sản phẩm Apple, chúng tôi và các đối tác sẽ tiến hành thu thập, sử dụng và chia sẻ những dữ liệu định vị chính xác nhất.

Khi sử dụng dịch vụ này, người sử dụng cần phải tự trang bị cho mình những kiến thức cơ bản và sự chắc chắn cần thiết. Ví dụ như hình trên, khi bạn sử dụng dịch vụ Yelp – mang lại kết quả khác chính xác trong phạm vi nước Mỹ. Mặt khác, người sử dụng cũng nên cân nhắc đến các chính sách có liên quan đến quyền riêng tư được cung cấp bởi FourSquare hoặc Facebook Places.

8. Kết quả trả lời từ các Search Engine khác nhau có thể đi kèm với mã độc


Đây là 1 trong những thị phần được tin tặc để mắt đến nhiều nhất, các chuyên gia bảo mật đã xếp hạng nguy cơ này với mức rất nguy hiểm. Khi tiến hành tìm kiếm với những từ khóa mong muốn, người sử dụng thường xuyên click vào những câu hỏi trả về đầu tiên. Ví dụ gần đây nhất, các chuyên gia bảo mật của McAfee đã tiến hành phân tích và nghiên cứu với kết quả 19% câu trả lời của cụm từ khóa "Cameron Diaz and screensavers" có chứa đường dẫn liên quan đến mã độc.

Do vậy, không nên quá tin tưởng vào kết quả từ các Search Engine, ngay cả với Google, Yahoo hoặc các SE khác, kiểm tra kỹ các URL với AVG LinkScanner Free Edition 2011, Norton Safe Web, SiteAdvisor của McAfee…

9. Các tài liệu định dạng PDF có chứa mã độc

Chắc hẳn điều này cũng không quá xa lạ với cộng đồng người sử dụng, vấn đề này đã được đề cập đến rất nhiều trong thời gian gần đây khi tin tặc đã phát hiện và khai thác thành công các lỗ hổng an ninh trong file định dạng PDF, khéo léo chèn thêm các chương trình độc hại và lây nhiễm vào máy tính của người sử dụng. Chúng thường xuyên có trên các website đã hoặc đang bị tấn công, có thể ở ngay trong hòm thư email của bạn dưới dạng thư quảng cáo, thư rác. Microsoft đã quan tâm hơn rất nhiều đến những lỗ hổng an ninh “thường xuyên” phát hiện được trong Windows, và gần đây nhất tin tặc đã nhòm ngó đến ứng dụng Adobe Acrobat hoặc Adobe Reader dành cho Windows. Về bản chất, Adobe Reader sẽ hiển thị thông báo rằng bạn có muốn thực thi các file đính kèm trong văn bản PDF hay không, nhưng tin tặc đã khéo léo khai thác, chỉnh sửa lại những thông báo này để khiến người sử dụng tin rằng đó là những file hệ thống an toàn, và đương nhiên sau đó, họ sẽ vô tình kích hoạt chúng.

Theo phân tích báo cáo của hãng bảo mật Symantec trong năm 2009, các cuộc tấn công bằng phương pháp này chiếm tới 49% tổng số vụ lây nhiễm bằng Website.

Để phòng tránh mối nguy hiểm này, bạn có thể sử dụng các chương trình đọc và xử lý PDF khác nhau như Foxit Reader và luôn cập nhật đến phiên bản mới nhất. Quá trình này sẽ bảo vệ bạn khỏi các lỗ hổng trong Adobe Reader nhưng khó có thể đảm bảo rằng sẽ tránh khỏi các cách thức lây nhiễm qua PDF sau này. 1 cách thức khác là không mở file đính kèm trong PDF qua Preferences > Trust Manager, bỏ dấu check khỏi ô Allow opening of non-PDF file attachments with external applications.

10. Các file video có chứa mã độc để khai thác lỗ hổng trong phần mềm hỗ trợ để lây nhiễm vào máy tính

Tin tặc sử dụng cách thức khá giống với quá trình lây nhiễm qua PDF nhưng ít gặp hơn, chúng chủ yếu được phát tán qua những website mà người sử dụng thường xuyên download video. Được xếp vào mức nguy hiểm, “nạn nhân” gần đây nhất là ứng dụng QuickTime Player của Apple được tin tặc sử dụng để tấn công vào hệ thống máy tính của người sử dụng. Cách đề phòng tốt nhất là người dùng thường xuyên cập nhật các tin tức bảo mật liên quan đến ứng dụng bạn đang sử dụng và áp dụng phiên bản mới nhất, hạn chế download và xem video tại những địa chỉ ít tên tuổi, sử dụng các chương trình bảo mật đầy đủ.

11. Các yêu cầu download Drive-by mỗi khi người dùng truy cập vào 1 trang web bất kỳ

Được “đặc cách” xếp vào mức đặc biệt nguy hiểm, mỗi khi người dùng truy cập vào 1 trang bất kỳ nào đã bị hack trước đó, quá trình drive-by download sẽ tự động kích hoạt mà họ không hề hay biết. Và vì lý do người sử dụng không thể phân biệt được đâu là trang web an toàn, các chuyên gia bảo mật vẫn thường xuyên khuyến cáo mọi người dùng các ứng dụng bảo mật, đặc biệt là phiên bản Internet Security với các tính năng nhận diện nâng cao như Kaspersky Internet Security 2010, Avira Antivir Premium 2010, Panda Global Protection 2010, Norton Internet Security 2010 hoặc Panda Internet Security 2010.

12. Những chương trình bảo mật giả mạo đánh cắp dữ liệu cá nhân

Có thể nói đây là 1 trong những cách thức đơn giản, dễ nhận biết và cũng nhiều người mắc phải nhất. Chúng được xếp vào mức vô cùng nguy hiểm, với giao diện và tính năng quảng cáo không hề thua kém các chương trình bảo mật “xịn”, người sử dụng rất dễ rơi vào bẫy của hacker. Khi đã lây nhiễm và cài đặt thành công vào máy tính của nạn nhân, chương trình sẽ không ngừng hiển thị các thông báo về tình trạng hiện thời của hệ thống, rằng họ bị nhiễm rất nhiều loại virus, trojan, malware, spyware, rootkit… Nếu muốn diệt bỏ tận gốc những “hiểm họa” giả mạo này, người dùng phải bỏ tiền ra mua bản quyền sử dụng của chúng – tất nhiên là không hề có thực.

Khi phát hiện có bất cứ dấu hiệu đáng ngờ nào trong hệ thống, ví dụ như cần cài đặt thêm ứng dụng bảo mật trong khi máy tính của bạn đã có sẵn, hãy ngừng sử dụng Internet, khởi động và đăng nhập vào chế độ Safe Mode, quét toàn bộ ổ đĩa và hệ điều hành để phát hiện virus đang ẩn nấp đâu đó. Chỉ nên sử dụng các chương trình của các hãng bảo mật uy tín như Kaspersky, BitDefender, Panda, Avira… cập nhật đầy đủ, và nếu có điều kiện các bạn nên mua bản quyền sử dụng của những chương trình này.

13. Các quảng cáo gian lận trên những website lừa đảo

Chúng có ở khắp mọi nơi, trên hầu hết tất cả các website thương mại, vì đó là nơi tập trung lưu lượng quảng cáo lớn nhất. Hình thức lừa đảo nào khá nguy hiểm, nhưng chỉ kích thích được những người dùng tò mò, hoặc những người kiếm tiền trên mạng. Ngoài ra, tin tặc còn khai thác được lỗ hổng trên các website uy tín, điển hình là năm vừa rồi với trang tin New York Times, và trong đầu năm nay là vụ việc có liên quan đến Google Ads.

Eric Howes – giám đốc bộ phận nghiên cứu và phát triển các dịch vụ bảo mật của hãng phần mềm GFI cho biết: “Tin tặc đã ngày càng trở nên tinh vi và xảo quyệt hơn trong công đoạn khai thác các lỗ hổng bảo mật trực tuyến, dịch vụ kinh doanh và quảng cáo tràn lan hiện nay. Phần lớn người dùng khó có thể phân biệt được những mối hiểm họa thường trực này, và đương nhiên họ trở thành “mồi ngon” cho chúng”.

Cách đề phòng duy nhất là các bạn không nên click vào tất cả các bảng tin quảng cáo trên website khi chưa biết rõ nguồn gốc của chúng. Đối với những website lớn và có uy tín, họ có hẳn 1 bộ phận chuyên phụ trách về vấn đề an ninh, bảo mật với từng chuyên mục riêng biệt.

14. Các ứng dụng tràn làn trên Facebook

Nguồn cung cấp đương nhiên là mạng xã hội Facebook, các mối hiểm họa đến từ đây được xếp vào mức nguy hiểm. Vấn đề bảo mật của Facebook luôn tồn tại từ trước đến nay, với những ứng dụng cho Facebook, người sử dụng không hề biết tác giả thực sự của chúng, họ làm gì với dữ liệu đã thu thập được…

Hãy cẩn thận lựa chọn với các thiết lập ứng dụng trên Facebook, ví dụ tùy chỉnh Privacy Settings > Applications and Websites > Edit your settings và thay đổi cho phù hợp.

15. Những website được tạo ra với mục đích spam


Các bạn có thể thường xuyên thấy những thông tin quảng cáo hấp dẫn có dạng như: Get a free iPad! Get a free notebook! A free iPod! It's easy!… tại các trang bán đồ điện tử, gia dụng … Những trang web này thực chất lại không quá nguy hiểm như vẻ bên ngoài. Các thông tin có thể bị khai thác ở đây chỉ bao gồm email, địa chỉ khai báo và số điện thoại liên lạc.

Khi truy cập vào những website như thế này, hãy đọc kỹ các chính sách và thỏa thuận của nhà cung cấp với người dùng. Mặc dù họ luôn nói rằng sẽ không tiết lộ thông tin cá nhân của người dùng cho các hãng thứ 3 khác, nhưng không có gì đảm bảo họ sẽ không làm như vậy.

16. Nạn Phishing mới – phiên bản 2.0

Chúng chủ yếu lây lan và bùng phát dựa vào mô hình và quy mô phát triển của các mạng xã hội phổ biến hiện nay. Không thể nói là an toàn, nhưng cũng khó có thể nói là quá nguy hiểm nếu người dùng được trang bị những kiến thức an ninh cơ bản. Ví dụ, những ứng dụng trên Facebook và dịch vụ rút gọn URL hiện đang được ứng dụng và phổ biến rộng rãi. Và tin tặc không thể bỏ qua “miền đất” màu mỡ này với nhiều thủ đoạn tinh vi và phức tạp. Chúng tạo ra những tài khoản khác nhau, với nhiều tiêu đề quảng cáo hấp dẫn, nhiều phần thưởng có giá trị cao, người sử dụng sẽ có cơ hội nhận quà miễn phí… tất cả chỉ để nhắm vào thông tin cá nhân của họ.

Eric Howes – giám đốc bộ phận nghiên cứu và phát triển ứng dụng bảo mật của hãng phần mềm Sunbelt cho biết: Người dùng đang phải đối mặt với 1 trong những nguy cơ bùng phát mạnh nhất là nạn các loại mã độc, adware, trojan và spyware đang lây lan, phát tán rộng rãi qua các mạng xã hội ưu thích như Facebook hoặc Twitter. Họ liên tục nhận được các tin nhắn quảng cáo, các đoạn video clip hấp dẫn, hoặc các công cụ – widget để hỗ trợ các hoạt động trên Facebook… và phần lớn trong số đó đều chứa mã độc hoặc các phần mềm quảng cáo khác.

Phương pháp phòng chống, không nên tuyệt đối tin tưởng các đường dẫn trên Facebook, thậm chí nếu nó được gửi đến từ 1 người bạn. Kiểm tra kỹ các tài khoản, các thông tin cá nhân và liên quan khác. Nếu có dấu hiệu nghi ngờ trên hệ thống, hãy lập tức thay đổi các thông tin bảo mật như tài khoản, mật khẩu đăng nhập.

17. Mô hình Oversharing – để lộ quá nhiều thông tin cá nhân trên mục profile của mạng xã hội


Tất nhiên, mạng xã hội chính là nơi môi trường thuận lợi nhất để bùng phát hiểm họa này. Đã bao nhiêu lần người sử dụng từng thấy bạn bè trên Facebook hoặc Twitter công khai tiết lộ thông tin cá nhân quá mức cần thiết ?

Roger Thompson – chuyên gia bảo mật của hãng AVG cho biết rằng: Mối nguy hiểm này thường trực trên các mạng diễn đàn, mạng xã hội phổ biến hiện nay mà rất ít người để ý đến. Người sử dụng – chủ yếu là lứa tuổi teen, thường xuyên để lại tất cả các thông tin cá nhân thực của họ, mà không hề để ý rằng đang có bao nhiêu người khác đang xem và có thể sẽ sử dụng thông tin này vào mục đích khác. Ông còn cho biết thêm rằng: Mô hình Oversharing này có thể dẫn tới sự vi phạm nghiêm trọng trong vấn đề chính sách bảo mật và các điều khoản sử dụng.

Trông có vẻ phức tạp, nhưng hoàn toàn tránh được nếu người dùng cẩn thận hơn 1 chút. Chỉ cần để ý đến những gì bạn có ý định đăng tải, chia sẻ và có nên tiết lộ thông tin thực sự hay không. Với hơn 500 triệu người sư dụng Facebook hiện tại, bạn sẽ làm cách nào để giữ kín thông tin cá nhân và thực sự an toàn?

Theo quantrimang

AVG công bố bộ sản phẩm bảo mật 2011

Hôm qua 28/9, AVG Technologies đã giới thiệu bộ sản phẩm bảo mật AVG 2011 của mình. Theo nhà sản xuất, phiên bản này sẽ tăng cường bảo vệ các hoạt động trên nền web, mạng xã hội, tỉ lệ phát hiện các phần mềm độc hại cao hơn, làm việc nhanh nhẹn và mạnh mẽ hơn.
AVG cung cấp giải pháp bảo vệ theo thời gian thực LinkScanner, cho phép người dùng lướt web, tìm kiếm thông tin, mua sắm ở các cửa hàng trực tuyến, sử dụng email, tham gia mạng xã hội... mà vẫn giử an toàn thông tin cá nhân.
LinkScanner tự động kiểm tra các liên kết và bảo vệ theo thời gian thực, với các liên kết trao đổi trên các mạng xã hội như Facebook và MySpace. Không có bất kì yêu cầu rắc rối nào, tính năng này tự động kích hoạt và làm việc.
AVG 2011 bao gồm nhiều cải tiến để dễ sử dụng hơn. Quá trình cài đặt và gỡ bỏ đã được đơn giản đến mức tối thiểu.
Một tin vui với những người sử dụng các ứng dụng đa phương tiện nặng, AVG 2011 có chế độ "Game Mode". Trong chế độ này, việc bảo vệ vẫn tiến hành nhưng không có bất kì thông báo nào làm gián đoạn các ứng dụng đa phương tiện toàn màn hình hoặc các trò chơi. Ngoài ra, AVG 2011 còn có chức năng sửa chữa lỗi của các ứng dụng chỉ với một cú kích chuột vào nút "Fix It".
Một tính năng mới khác trong AVG 2011 là Smart Scanning (Quét thông minh). Theo đó, những tập tin đã được chứng nhận ao toàn sẽ được bỏ qua, chỉ quét những tập tin chưa được kiểm chứng nhằm tăng tốc độ quét. Cũng với tính năng này, AVG sẽ xác định các tài nguyên nào của máy tính đang được sử dụng, ưu tiên quyét các tài nguyên trong trạng thái nhàn rỗi, từ đó giúp máy tính của bạn không bị chậm trong quá trình quyét.
Giá bán giấy phép sử dụng 1 năm của AVG Internet Security 2011 bắt đầu ở mức 54,99 đô la Mĩ và AVG Anti-Virus 2011 bắt đầu ở mức 34,00 đô la Mĩ.
Bên cạnh đó, phiên bản miễn phí AVG Antivirus Free Edition 2011 cũng được phát hành đồng thời trong đợt này.

Tác giả: AVG Technologies
Phiên bản: 2011.1120. Giấy phép: Miễn phí
HĐH: Windows 2000/XP/Vista/7
Trang chủ: free.avg.com
.

Theo TTCN

9.26.2010

Tải và sử dụng Norton Antivirus 2011 bản dùng thử 90 ngày

Các sản phẩm mới nhất của Norton phiên bản 2011 đã mang lại cho người sử dụng nhiều tính năng cải tiến và các tiện ích khác đi kèm. Xét về khía cạnh kỹ thuật, Norton Antivirus 2011 cung cấp 3 mức bảo vệ cho người dùng. Đầu tiên là dựa trên cơ sở dữ liệu nhận dạng của Norton liên tục được cập nhật đảm bảo luôn phát hiện được các loại virus và mã độc mới nhất.
Lớp thứ 2 với tên gọi SONAR - Symantec Online Network for Advanced Response, dựa vào những hành vi nguy hiểm nhưng chưa được phân loại rõ ràng. Rất nhiều loại malware tinh vi ngày nay có thể dễ dàng vượt qua được các cơ sở dữ liệu nhận dạng và hành vi khác lạ của các chương trình bảo mật phổ biến. Nhưng lớp bảo vệ thứ 3 của Norton mới thực sự mang lại hiệu quả cao nhất là Norton Insight Network:
Nếu bạn download bản dùng thử của Norton 2011 theo cách thông thường trên trang chủ thì chỉ nhận được thời hạn dùng đúng 30 ngày. Và nếu tiếp tục sử dụng thêm thời gian, bạn cần khai báo thông tin số tài khoản thẻ tín dụng để hưởng trọn 120 ngày dùng. Dưới đây là đường dẫn trực tiếp của Norton Antivirus 2011, Norton Internet Security 2011 và Norton 360 v4 đầy đủ 90 ngày mà không cần cung cấp tài khoản thẻ tín dụng như tại trang chủ của Norton. Rất đơn giản, bạn chỉ cần tải về máy tính và cài đặt như bình thường, không cần nhập key kích hoạt:

 - Norton Antivirus 2011
 - Norton Internet Security 2011
 - Norton 360 v4
T.Anh- Quảntimang (theo Raymond)

9.15.2010

Các tiện ích bảo mật hỗ trợ miễn phí của Kaspersky

Trong bài viết sau đây, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu với các bạn những công cụ hỗ trợ miễn phí, được nghiên cứu và phát triển bởi Kaspersky Lab – đặc biệt tỏ ra hữu ích trong những trường hợp gần như “không thể cứu chữa” khi người sử dụng gặp phải.

Kaspersky Virus Removal Tool

Được tạo ra để xóa bỏ tất cả những file đã bị lây nhiễm khỏi hệ thống. Phiên bản mới nhất hiện nay là 9.0.0.722, với dung lượng khoảng 71.5 MB. Kaspersky Virus Removal Tool 2010 được áp dụng những công nghệ nhận dạng hiểm họa tiên tiến nhất của Kaspersky Anti VirusAVZ. Việc sử dụng công cụ này thường chỉ áp dụng trong những trường hợp khẩn cấp, và đây chỉ là phương án bảo mật dự phòng. Sau khi loại bỏ các mối hiểm họa trên bất cứ 1 máy tính nào, các bạn cần ngừng sử dụng công cụ này và cài đặt ứng dụng bảo mật khác vào hệ thống.

Các ưu điểm:
 - Giao diện đơn giản, dễ sử dụng
 - Có thể cài đặt vào các máy tính bị lây nhiễm, dù ở bất cứ mức độ nào. Có hỗ trợ chế độ Safe Mode
 - Kết hợp được chức năng quét và phòng chống sự lây lan trong hệ thống, phát hiện các dấu vết và phân tích quá trình hoạt động
 - Thu thập thông tin từ hệ thống và các hành động của mã độc để phòng tránh quá trình lây nhiễm tiếp tục xảy ra

Những chức năng chính:
 - Xóa bỏ virus, Trojan, worm, các module Spyware, adware theo chế độ tự động hoặc thông thường
 - Tiêu diệt tất cả các dòng rootkit phổ biến hiện nay

Yêu cầu tối thiểu của hệ thống:

 - Dung lượng trống của ổ cứng tối thiểu 80 MB, có kết nối Internet
 - Microsoft Windows 2000 Professional (Service Pack 4 hoặc cao hơn)
 - Microsoft Windows XP Home Edition (Service Pack 2 hoặc cao hơn)
 - Microsoft Windows XP Professional (Service Pack 2 hoặc cao hơn)
 - Với những hệ điều hành trên thì phần cứng tối thiểu như sau CPU Intel Pentium 300 MHz, RAM 256 MB
 - Microsoft Windows Vista Home Basic (32-bit)
 - Microsoft Windows Vista Home Premium (32-bit)
 - Microsoft Windows Vista Business (32-bit)
 - Microsoft Windows Vista Enterprise (32-bit)
 - Microsoft Windows Vista Ultimate (32-bit)
 - Phần cứng áp dụng với những hệ điều hành trên là CPU Intel Pentium 800 MHz 32-bit (x86), RAM 512 MB
 - Microsoft Windows 7 Home Premium (32/64 bit)
 - Microsoft Windows 7 Professional (32/64 bit)
 - Microsoft Windows 7 Ultimate (32/64 bit)
 - Yêu cầu phần cứng CPU Intel Pentium 1 GHz 32-bit (x86) / 64-bit(x64), và RAM 1 GB (32-bit) hoặc 2 GB (64-bit)

RectorDecryptor

Được áp dụng với loại mã độc Trojan-Ransom.Win32.Rector, phiên bản mới nhất là 2.3.0.0, dung lượng nhỏ nhẹ, chỉ 188 KB. Tin tặc chủ yếu sử dụng mẫu Trojan-Ransom.Win32.Rector để gây ảnh hưởng đến quá trình hoạt động bình thường của máy tính nạn nhân, chỉnh sửa trái phép dữ liệu để người sử dụng không thể truy cập được. Khi những dữ liệu này đã bị thay đổi (người dùng không thể truy cập được nữa) thì họ sẽ nhận được những thông điệp từ phía tin tặc yêu cầu họ cung cấp thông tin cá nhân hoặc 1 dạng phí như “tiền chuộc” - để đổi lại, họ có thể sẽ nhận lại được dữ liệu gốc. Ứng dụng RectorDecryptor được các chuyên gia bảo mật của Kaspersky nghiên cứu và phát triển, rât dễ sử dụng (vì chương trình có giao diện đồ họa), người dùng chỉ việc tải về từ đường dẫn trên, giải nén và 1 thư mục bất kỳ trên ổ cứng và chạy file RectorDecryptor.exe:
Bấm nút Start scan để bắt đầu quét, ứng dụng sẽ tìm kiếm tất cả những file đã bị mã hóa và giải mã chúng. Chọn Delete crypted files after decryption để xóa tất cả các bản sao của file mã hóa với phần đuôi mở rộng như vscrypt, .infected, .bloc, .korrektor … Khi hoàn tất quá trình này, chương trình sẽ tạo ra file log ghi lại toàn bộ chi tiết hoạt động tại ổ hệ thống (thông thường là ổ C) dưới dạng UtilityName.Version_Date_Time_log.txt, ví dụ như C:\RectorDecryptor.2.2.0_12.08.2010_15.31.43_log.txt

Về bản chất, mẫu Trojan-Ransom.Win32.Rector thường chỉ nhắm vào những file có phần mở rộng là .jpg, .doc, .pdf, .rar. Sau đó, tin tặc sẽ liên lạc với nạn nhân để giải mã dữ liệu qua nickname ††KOPPEKTOP†† hoặc thông tin sau:
ICQ: 557973252 or 481095
EMAIL: v-martjanov@mail.ru
Hoặc địa chỉ website sau:
http://trojan....sooot.cn/
http://malware....66ghz.com/
Những thông tin này được hiển thị trên màn hình desktop máy tính của nạn nhân.
Đây là “thuốc đặc trị” dòng mã độc Rootkit.Win32.TDSS, phiên bản mới nhất 2.4.2.1, dung lượng nhỏ - 1.13 MB, các bạn có thể tải trực tiếp tại đây. Dòng Rootkit.Win32.TDSS bao gồm các biến thể khác nhau như Tidserv, TDSServ, Alureon … khi những Rootkit này xâm nhập thành công vào máy tính người sử dụng, hệ thống sẽ rất khó loại bỏ chúng, ngay cả khi được sự hỗ trợ của các sản phẩm của Kaspersky Lab. Về cách thức cơ bản, TDSSKiller sẽ thay thế người sử dụng can thiệp vào Registry để sửa lại những khóa đã bị thay đổi. Đối với những máy tính sử dụng Windows, thuật ngữ rootkit được dùng để chỉ về 1 loại chương trình đặc biệt có thể “chui” vào tất cả các hàm hệ thống (Windows API). Bằng việc xâm nhập và chỉnh sửa lại những hàm chức năng ở mức thấp này – những loại mã độc khác có thể ẩn mình dễ dàng hơn, can thiệp vào những tiến trình của hệ điều hành, che giấu thư mục, file dữ liệu, chỉnh sửa registry … TDSSKiller rất đơn giản, dễ sử dụng vì có giao diện đồ họa, hỗ trợ tốt hệ điều hành Windows 32 và 64 bit. Để sử dụng, các bạn tải trực tiếp từ đường dẫn trên, giải nén vào thư mục bất kỳ trên ổ cứng và chạy file TDSSKiller.exe:
Nhấn nút Start Scan để bắt đầu quét toàn bộ hệ thống, chương trình sẽ rà soát và phát hiện tất cả những đối tượng, file … bị lây nhiễm. Kết quả được chia ra làm 2 nhóm chính: malicious (được nhận dạng) và suspicious (không thể nhận dạng). Khi quá trình quét kết thúc, chương trình sẽ hiển thị danh sách những đối tượng phát hiện với thông tin chi tiết cụ thể. Với malicious objects chương trình sẽ tự động áp dụng cách thức Cure hoặc Delete, với suspicious objects thì người dùng sẽ tự áp dụng phương pháp (mặc định của chương trình là Skip). Hoặc các bạn có thể chọn Quarantine để cách ly hoàn toàn đối tượng bị lây nhiễm, chúng sẽ được lưu vào thư mục trên ổ hệ thống, ví dụ C:\TDSSKiller_Quarantine\23.07.2010_15.31.43
Sau khi bấm Next, chương trình sẽ áp dụng các phương pháp người dùng lựa chọn và sau cùng là hiển thị kết quả. Các bạn nên khởi động lại máy tính để hoàn tất quá trình:
File log này thường được lưu tại ổ hệ thống với dạng UtilityName.Version_Date_Time_log.txt. Ví dụ ở đây là C:\TDSSKiller_Quarantine\23.07.2010_15.31.43

Triệu chứng của máy tính bị nhiễm loại Rootkit.Win32.TDSS (thế hệ thứ nhất - TDL1 và thứ 2 – TDL2), với những người có nhiều kinh nghiệm họ sẽ cố gắng theo dõi dấu vết của các hàm chức năng sau: IofCallDriver, IofCompleteRequest, NtFlushInstructionCache, NtEnumerateKey, NtSaveKey, NtSaveKeyEx ... bằng việc sử dụng tiện ích Gmer:
Với những may tính bị lây nhiễm bởi Rootkit.Win32.TDSS thế hệ thứ 3 (TDL3), chúng thường xuyên “bám” vào file driver hệ thống atapi.sys và thay thế đối tượng device nguyên bản trong đó:
KidoKiller

Cái tên Kido chắc cũng không quá xa lạ với cộng đồng người sử dụng máy tính, với tên nguyên bản là Net-Worm.Win32.Kido (hoặc còn gọi là Conficker, Downadup), chúng chủ yếu tấn công vào những máy tính sử dụng hệ điều hành Microsoft Windows dựa trên nền tảng workstation và server.

Những đặc điểm dễ nhận thấy nhất của dòng Net-Worm.Win32.Kido này là chúng tự tạo ra file autorun.inf và RECYCLED\{SID<....>}\tên_ngẫu_nhiên.vmx trên các thiết bị lưu trữ di động, hoặc trên các thiết bị lưu trữ và chia sẻ dữ liệu trong mạng nội bộ, mặt khác chúng tự lưu trữ trên hệ thống dưới dạng file DLL với tên bất kỳ, ví dụ như sau c:\windows\system32\zorizr.dll. Tự tạo ra các dịch vụ hệ thống với tên gọi ngẫu nhiên, ví dụ knqdgsm. Đồng thời, chúng cố gắng tấn công và xâm nhập vào hệ thống máy tính qua cổng 445 hoặc 139 bằng lỗ hổng MS Windows MS08-067, mặt khác chúng cố gắng dò ra địa chỉ IP chính xác của máy tính bằng địa chỉ sau:
 - http://www.getmyip.org/
 - http://getmyip.co.uk/
 - http://www.whatsmyipaddress.com/
 - http://www.whatismyip.org/
 - http://checkip.dyndns.org/
Tiếp đến là những dấu hiệu của hệ thống mạng, với lưu lượng dữ liệu tăng đột biến, bắt nguồn từ máy tính bị lây nhiễm. Các chương trình bảo mật sẽ kích hoạt chế độ Intrusion Detection System để thông báo về lỗ hổng Intrusion.Win.NETAPI.buffer-overflow.exploit. Và dễ nhận biết nhất là máy tính không thể truy cập vào website của các công ty bảo mật như: avira, avast, esafe, drweb, eset, nod32, f-secure, panda, kaspersky … và do vậy, các bạn không thể kích hoạt bản quyền các ứng dụng bảo mật qua Internet, rất hay gặp là trường hợp của Kaspersky (không ít khách hàng gặp phải tình huống này và cho rằng key kích hoạt không thích hợp, không đúng hoặc nhà cung cấp gửi sai mã cho họ). Nhưng đối với hệ điều hành “cổ” như MS Windows 95, MS Windows 98 hoặc MS Windows ME thì không bị ảnh hưởng bởi Kido. Để hạn chế những lỗ hổng có trên hệ thống – qua đó Kido dễ dàng khai thác và xâm nhập, các chuyên gia bảo mật của Microsoft yêu cầu người dùng áp dụng các bản vá lỗi sau đây: MS08-067, MS08-068MS09-001.

Mặt khác, người sử dụng nên trang bị mật khẩu bảo vệ đủ dài và khó đoán (tối thiểu 6 ký tự và không chứa thông tin có liên quan đến bản thân như ngày sinh nhật, số điện thoại, địa chỉ … ), tắt bỏ tính năng autorun của hệ thống, tải KidoKiller từ đường dẫn trên, giải nén vào bất cứ thư mục nào trên ổ đĩa và chạy file kk.exe, chặn các truy cập đến cổng TCP 445 và 139 trong mục firewall. Sau khi quét bằng kk.exe kết thúc, các bạn có thể giải phóng truy cập đến 2 cổng trên như bình thường.

Nếu trên máy tính có cài đặt những ứng dụng sau:
- Kaspersky Internet Security 2009;
- Kaspersky Anti-Virus 2009;
- Kaspersky Internet Security 7.0;
- Kaspersky Anti-Virus 7.0;
- Kaspersky Internet Security 6.0;
- Kaspersky Anti-Virus 6.0;
- Kaspersky Anti-Virus 6.0 for Windows Workstations;
- Kaspersky Anti-Virus 6.0 SOS;
- Kaspersky Anti-Virus 6.0 for Windows Servers.
Thì hãy tắt tính năng File Anti-Virus (hoặc là Disable tạm thời Kaspersky) rồi mới kích hoạt kk.exe.

SalityKiller

Nhiều người hay gọi đâylà “con virus” chuyên “ăn” những file *.exe trong hệ điều hành Windows, triệu chứng dễ nhận thấy nhất là người dùng không thể sử dụng được các file *.exe như bình thường, và biểu tượng của chúng bị biến đổi về mẫu Classic. Công cụ SalityKiller hoạt động hiệu quả đối với những mẫu Sality sau Virus.Win32.Sality.aa, Virus.Win32.Sality.agVirus.Win32.Sality.bh.

Nếu máy tính bị lây nhiễm nằm trong mô hình mạng local và thuộc domain: trước tiên, các bạn cần tải SalityKiller.zip, giải nén vào thư mục bất kỳ nào đó và chạy file SalityKiller.exe trên từng máy tính trên hệ thống (có thể áp dụng bằng Kaspersky Administration Kit hoặc server group policy). Sau đó xóa bỏ hoàn toàn các khóa registry bị thay đổi bằng công cụ sau Sality_RegKeys.zip, giải nén và chạy file Disable_autorun.reg:
Sau khi quá trình quét trên kết thúc, chạy tiếp các file reg tương ứng với các hệ điều hành từ file nén Sality_RegKeys.zip trên:

 - với Windows 2000 - SafeBootWin200.reg
 - với Windows XP - SafeBootWinXP.reg 
 - với Windows 2003 - SafeBootWinServer2003.reg 
 - với Windows Vista / 2008 - SafebootVista.reg
 - với Windows 7 / 2008 R2 - SafebootWin7.reg

Với những máy tính độc lập (không thuộc hệ thống mạng local nào), thì trước tiên các bạn cần tắt bỏ chức năng iSwift and iChecker của những ứng dụng Kaspersky sau:

- Kaspersky Anti-Virus 7.0
- Kaspersky Internet Security 7.0
- Kaspersky Anti-Virus 6.0
- Kaspersky Internet Security 6.0
- Kaspersky Anti-Virus 2009;
- Kaspersky Internet Security 2009;
- Kaspersky Anti-Virus 2010;
- Kaspersky Internet Security 2010;
- Kaspersky Anti-Virus 2011;
- Kaspersky Internet Security 2011;
- Kaspersky PURE;
- Kaspersky Anti-Virus 6.0 for Windows Workstations
- Kaspersky Anti-Virus 6.0 SOS
 - Kaspersky Anti-Virus 6.0 for Windows Servers
klwk.com

Chuyên dùng để “đặc trị” dòng Trojan-Dropper.Win32.Agent.ztu và các “đồng minh” của nó, bao gồm:

I-Worm.Zafi.b
I-Worm.Bagle.at,au,cx-dw
Virus.Win32.Implinker.a
Not-a-virus.AdWare.Visiter
Trojan.Win32.Krotten
Email-Worm.Win32.Brontok.n
Backdoor.Win32.Allaple.a
Trojan-Spy.Win32.Goldun.mg
Email-Worm.Win32.Warezov
Virus.Win32.VB.he
IM-Worm.Win32.Sohanad.as
P2P-Worm.Win32.Malas.b
Virus.Win32.AutoRun.acw
Worm.Win32.VB.jn
Trojan.Win32.KillAV.nj
Worm.Win32.AutoRun.cby
Trojan.Win32.Agent.aec
Trojan-Downloader.Win32.Todon.an
Trojan-Downloader.Win32.Losabel.ap
Worm.Win32.AutoRun.czz,daa,dhq,dfx
Net-Worm.Win32.Rovud.a-c
Trojan.Win32.ConnectionServices.x-aa
Worm.Win32.AutoRun.dtx
Worm.Win32.AutoRun.hr
Backdoor.Win32.Agent.lad
FraudTool.Win32.UltimateDefender.cm
Trojan-Downloader.Win32.Agent.wbu
Backdoor.Win32.Small.cyb
FraudTool.Win32.XPSecurityCenter.c
Downloader.Win32.VistaAntivirus.a
FraudTool.Win32.UltimateAntivirus.an
FraudTool.Win32.UltimateAntivirus.ap
Trojan-Spy.Win32.Zbot.dlh
Trojan-Downloader.Win32.Small.abpz
Rootkit.Win32.Ressdt.br
Worm.Win32.AutoRun.lsf
Worm.Win32.AutoRun.epo
Worm.Win32.AutoRun.enw
Backdoor.Win32.UltimateDefender.a
Worm.Win32.AutoRun.pwi
Worm.Win32.AutoRun.pfh
Worm.Win32.AutoRun.qhk
Worm.Win32.AutoRun.ouu
Worm.Win32.AutoRun.bnb
Worm.Win32.AutoRun.ll
AdWare.Win32.Cinmus.sxy
Trojan.Win32.Autoit.eo
Worm.Win32.AutoRun.sct
Worm.Win32.AutoRun.qkn
AdWare.Win32.Cinmus.wsu
Trojan-Ransom.Win32.Taras.a
Trojan-Dropper.Win32.Agent.ztu
Trojan-Downloader.Win32.Agent.Apnd
Worm.Win32.Autorun.qpa
Net-Worm.Win32.Kido.j
Worm.Win32.Autorun.dcw
Trojan.Win32.Feedel.gen
Trojan.Win32.Pakes.mak
Net-Worm.Win32.Kido.r
Net-Worm.Win32.Kido.t
Worm.VBS.Autorun.cq
Worm.Win32.Pinit.ac
Worm.Win32.Pinit.ae
Worm.Win32.Pinit.af
Worm.Win32.Pinit.gen
Net-Worm.Win32.Kido.bw
Net-Worm.Win32.Kido.db
Net-Worm.Win32.Kido.fk
Net-Worm.Win32.Kido.fx
Net-Worm.Win32.Kido.fo
Net-Worm.Win32.Kido.s
Net-Worm.Win32.Kido.dh
Net-Worm.Win32.Kido.ee
Net-Worm.Win32.Kido.gh
Net-Worm.Win32.Kido.fa
Net-Worm.Win32.Kido.gy
Net-Worm.Win32.Kido.ca
Net-Worm.Win32.Kido.by
Net-Worm.Win32.Kido.if
Net-Worm.Win32.Kido.eo
Net-Worm.Win32.Kido.bx
Net-Worm.Win32.Kido.bh
Net-Worm.Win32.Kido.bg
Net-Worm.Win32.Kido.ha
Net-Worm.Win32.Kido.hr
Net-Worm.Win32.Kido.da
Net-Worm.Win32.Kido.dz
Net-Worm.Win32.Kido.cg
Net-Worm.Win32.Kido.eg
Net-Worm.Win32.Kido.eq
Net-Worm.Win32.Kido.bz
Net-Worm.Win32.Kido.do
Net-Worm.Win32.Kido.fw
Net-Worm.Win32.Kido.du
Net-Worm.Win32.Kido.cv
Net-Worm.Win32.Kido.dv
Với dung lượng vô cùng nhỏ chỉ khoảng 166 KB, giải nén ra thư mục hoặc ổ đĩa bất kỳ nào đó (ở đây là ổ F), kích hoạt file klwk.com:
Chạy file klwk.com theo cách trên để rà soát bộ nhớ và tắt bỏ quá trình hoạt động của virus.
Khi sử dụng cú pháp klwk.com /s thì ứng dụng sẽ quét toàn bộ các ổ cứng và phân vùng có trên hệ thống, xóa bỏ những file bị lây nhiễm, khóa những khóa registry có chứa mã độc.

ZbotKiller

Phiên bản gần đây nhất là 1.2.0.0, với dung lượng khoảng 98.9 KB, chuyên dùng để loại bỏ chương trình độc hại Trojan-Spy.Win32.Zbot – được tin tặc sử dụng để đánh cắp thông tin cá nhân có liên quan đến ngân hàng, số tài khoản, mật khẩu …

1 số dấu hiệu của máy tính bị nhiễm loại Trojan này như trong thư mục hệ thống (%windir%\system32 and %AppData% - với Windows Vista là: C:\Windows\System32C:\Users\\AppData còn với Windows XP Professional thì sẽ là C:\WINDOWS\system32C:\Documents and Settings\\Application Data) sẽ đột nhiên xuất hiện 1 hoặc nhiều file lạ sau: ntos.exe, twex.exe, twext.exe, oembios.exe, sdra64.exe, lowsec\\local.ds hoặc lowsec\\user.ds.

Đường dẫn tới những file trên được lưu trữ tại đây:

 - HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\Winlogon\Userinit o
 - HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Run


Cách thức sử dụng cũng rất đơn giản, chỉ việc tải file từ đường dẫn trên, giải nén và chạy file ZbotKiller.exe, chờ cho quá trình kết thúc và khởi động lại hệ thống.
KatesKiller

Được tạo ra để xóa bỏ triệt để dòng Trojan-PSW.Win32.Kates, phiên bản mới nhất hiện nay là 1.2.2, dung lượng chỉ vào khoảng 91.1 KB.

Một số dấu hiệu của máy tính bị nhiễm Trojan-PSW.Win32.Kates:

 - Các chương trình bảo mật phát hiện sự có mặt của trojan trên máy tính, khi xóa những file này đi, chúng lập tức khôi phục dưới những tên khác (riêng với các sản phẩm của Kaspersky thì không xảy ra hiện tượng này)

 - Ứng dụng explorer.exe lập tức bị hủy khi người dùng thực hiện lệnh sau: regedit.exe, cmd.exe và Total Commander

 - Những file có đuôi mở rộng *.bat và *.reg không thể kích hoạt được

 - Những hàm sau được nạp vào hầu hết những tiến trình đang kích hoạt trên hệ thống: CreateProcessW, WSARecv, WSASend, send, connect và recv

Khi sử dụng Gmer, các bạn có thể thấy rõ ràng sự hoạt động của các hàm sau:
Hoặc với Rootkit Unhooker:
Người sử dụng chỉ cần tải KatesKiller tại đây, giải nén và kích hoạt file KatesKiller.exe, chương trình sẽ tìm kiếm và xóa các ứng dụng nguy hiểm, phát hiện các hàm hoạt động ẩn đồng thời hủy hoạt động của những hàm ứng dụng này: CreateProcessW, WSASend, WSARecv, send, recv và recv, xóa bỏ những khóa registry đã bị thay đổi:
clrav.com

Được các chuyên gia Kaspersky tổng hợp và phân loại, clrav.com có thể áp dụng với những loại mã độc sau đây: I-Worm.BleBla.b, I-Worm.Navidad, I-Worm.Sircam, I-Worm.Goner, I-Worm.Klez.a, I-Worm.Klez.e, I-Worm.Klez.f, I-Worm.Klez.g, I-Worm.Klez.h, Win32.Elkern.c, I-Worm.Lentin.a, I-Worm.Lentin.b, I-Worm.Lentin.c, I-Worm.Lentin.d, I-Worm.Lentin.e, I-Worm.Lentin.f, I-Worm.Lentin.g, I-Worm.Lentin.h, I-Worm.Lentin.i, I-Worm.Lentin.j, I-Worm.Lentin.k, I-Worm.Lentin.l, I-Worm.Lentin.m, I-Worm.Lentin.n, I-Worm.Lentin.o, I-Worm.Lentin.p, I-Worm.Tanatos.a, I-Worm.Tanatos.b, I-Worm.Win32.Opasoft.a, I-Worm.Win32.Opasoft.b, I-Worm.Win32.Opasoft.c, I-Worm.Win32.Opasoft.d, I-Worm.Win32.Opasoft.e, I-Worm.Win32.Opasoft.f, I-Worm.Win32.Opasoft.g, I-Worm.Win32.Opasoft.h, I-Worm.Win32.Opasoft.i, I-Worm.Win32.Opasoft.j, I-Worm.Win32.Opasoft.k, I-Worm.Win32.Opasoft.l, I-Worm.Win32.Opasoft.m, I-Worm.Win32.Opasoft.n, I-Worm.Win32.Opasoft.o, I-Worm.Win32.Opasoft.p, I-Worm.Avron.a, I-Worm.Avron.b, I-Worm.Avron.c, I-Worm.Avron.d, I-Worm.Avron.e, I-Worm.LovGate.a, I-Worm.LovGate.b, I-Worm.LovGate.c, I-Worm.LovGate.d, I-Worm.LovGate.e, I-Worm.LovGate.f, I-Worm.LovGate.g, I-Worm.LovGate.h, I-Worm.LovGate.i, I-Worm.LovGate.j, I-Worm.LovGate.k, I-Worm.LovGate.l, I-Worm.Fizzer, I-Worm.Magold.a, I-Worm.Magold.b, I-Worm.Magold.c, I-Worm.Magold.d, I-Worm.Magold.e, Worm.Win32.Lovesan, Worm.Win32.Welchia, I-Worm.Sobig.f, I-Worm.Dumaru.a - I-Worm.Dumaru.m, Trojan.Win32.SilentLog.a, Trojan.Win32.SilentLog.b, Backdoor.Small.d, I-Worm.Swen, Backdoor.Afcore.l - Backdoor.Afcore.ad, I-Worm.Sober.a, I-Worm.Sober.c, I-Worm.Mydoom.a, I-Worm.Mydoom.b, I-Worm.Mydoom.e, I-Worm.Torvil.d, I-Worm.NetSky.b - I-Worm.NetSky.d, TrojanDownloader.Win32.Agent.a - TrojanDownloader.Win32.Agent.j, I-Worm.Bagle.a - I-Worm.Bagle.j, I-Worm.Bagle.n- I-Worm.Bagle.r, I-Worm.Bagle.z, Worm.Win32.Sasser.a - Worm.Win32.Sasser.d, Worm.Win32.Sasser.f, Backdoor.Agent.ac, Trojan.Win32.StartPage.fw

Phiên bản mới nhất hiện nay là 11.0.0.2, dung lượng nhỏ nhẹ ~ 139 Kb, như các công cụ hỗ trợ khác của Kaspersky, người sử dụng chỉ việc tải về, giải nén và chạy file clrav.com.
VirutKiller

Chức năng chính của công cụ này là phát hiện và xóa bỏ dấu vết của botnet client Virus.Win32.Virut.ce, q – chúng chuyên sử dụng để đánh cắp và “vận chuyển” dữ liệu từ máy tính bị lây nhiễm. Để đảm bảo quá trình xử lý loại virus này thành công, các bạn nên tắt bỏ chức năng System Restore của Windows trước tiên, tải VirutKiller, giải nén vào bất cứ thư mục nào trên ổ cứng và chạy file VirutKiller.exe, và các bạn chỉ cần đợi cho quá trình quét kết thúc rồi khởi động lại 1 lần. Khi bắt đầu rà soát, ứng dụng sẽ tìm kiếm và ngắt hoạt động các tiến trình độc hại, kết hợp với việc tìm kiếm các hàm chức năng sau: NtCreateFile, NtCreateProcess, NtCreateProcessEx, NtOpenFile và NtQueryInformationProcess. Tiếp đó, chương trình sẽ đảm nhận nhiệm vụ rà soát, chấm dứt quá trình lây lan và cách ly các file đã bị ảnh hưởng trên toàn bộ ổ cứng.

Antiboot

Chuyên sử dụng để tiêu diệt loại mã độc Backdoor.Win32.Sinowal.deg – chúng có cơ chế hoạt động và ẩn mình vô cùng tinh vi, do đó chúng gần như không thể bị phát hiện trên bất cứ máy tính nào đã bị lây nhiễm. Chúng che giấu các đối tượng bị lây nhiễm đằng sau file nguyên bản của chúng. Bên cạnh đó, phần thân chính của chương trình độc hại này (kernel level driver) không có trong file hệ thống. Chúng thường xuyên ẩn mình tại những khu vực không sử dụng đến tại phân vùng cuối cùng của ổ cứng. Những chương trình độc hại thuộc dòng Backdoor này không cần đến hệ điều hành để khởi động quá trình “làm việc” của chúng, do vậy chúng đặc biệt nguy hiểm bởi vì người dùng không thể biết là có bao nhiêu tin tặc đang “mò mẫm” trong chính máy tính của họ.

Để sử dụng Antiboot, các bạn tải file nén tại đây, giải nén ra 1 thư mục hoặc ổ cứng bất kỳ và chạy file antiboot.exe:
Bấm Y để bắt đầu quá trình phục hồi lại hệ thống:
Chọn Y, sau đó thoát khỏi chương trình và khởi động lại hệ thống.

XoristDecryptor

Trojan-Ransom.Win32.Xorist – loại Trojan được tạo ra để đánh cắp thông tin cá nhân của người sử dụng trên máy tính đã bị lây nhiễm, đồng thời khiến cho hoạt động của máy tính trở nên chập chờn, không ổn định. Sau khi chiếm được dữ liệu, tin tặc sẽ gửi lại về phía người dùng những yêu cầu họ trả phí để lấy lại phần dữ liệu đó.

1 số triệu chứng của máy tính bị nhiễm Trojan-Ransom.Win32.Xorist là họ nhận được yêu cầu gửi đi 1 tin nhắn bất kỳ để giải mã các tập tin đó, font chữ trong văn bản được dùng là Cyrillic – do đó hầu hết mọi người chỉ nhìn thấy những hình ô vuông và ký tự lạ. 1 dấu hiệu khác là sự xuất hiện của file có tên bằng tiếng Nga - Прочти Меня - как расшифровать файлы:
Đi kèm theo đó là file CryptLogFile.txt trong thư mục Windows. Chúng có thể mã hóa những tập tin với đuôi mở rộng sau: doc, xls, docx, xlsx, db, mp3, waw, jpg, jpeg, txt, rtf, pdf, rar, zip, psd, msi, tif, wma, lnk, gif, bmp, ppt, pptx, docm, xlsm, pps, ppsx, ppd, tiff, eps, png, ace, djvu, xml, cdr, max, wmv, avi, wav, mp4, pdd, html, css, php, aac, ac3, amf, amr, mid, midi, mmf, mod, mp1, mpa, mpga, mpu, nrt, oga, ogg, pbf, ra, ram, raw, saf, val, wave, wow, wpk, 3g2, 3gp, 3gp2, 3mm, amx, avs, bik, bin, dir, divx, dvx, evo, flv, qtq, tch, rts, rum, rv, scn, srt, stx, svi, swf, trp, vdo, wm, wmd, wmmp, wmx, wvx, xvid, 3d, 3d4, 3df8, pbs, adi, ais, amu, arr, bmc, bmf, cag, cam, dng, ink, jif, jiff, jpc, jpf, jpw, mag, mic, mip, msp, nav, ncd, odc, odi, opf, qif, qtiq, srf, xwd, abw, act, adt, aim, ans, asc, ase, bdp, bdr, bib, boc, crd, diz, dot, dotm, dotx, dvi, dxe, mlx, err, euc, faq, fdr, fds, gthr, idx, kwd, lp2, ltr, man, mbox, msg, nfo, now, odm, oft, pwi, rng, rtx, run, ssa, text, unx, wbk, wsh, 7z, arc, ari, arj, car, cbr, cbz, gz, gzig, jgz, pak, pcv, puz, r00, r01, r02, r03, rev, sdn, sen, sfs, sfx, sh, shar, shr, sqx, tbz2, tg, tlz, vsi, wad, war, xpi, z02, z04, zap, zipx, zoo, ipa, isu, jar, js, udf, adr, ap, aro, asa, ascx, ashx, asmx, asp, aspx, asr, atom, bml, cer, cms, crt, dap, htm, moz, svr, url, wdgt, abk, bic, big, blp, bsp, cgf, chk, col, cty, dem, elf, ff, gam, grf, h3m, h4r, iwd, ldb, lgp, lvl, map, md3, mdl, mm6, mm7, mm8, nds, pbp, ppf, pwf, pxp, sad, sav, scm, scx, sdt, spr, sud, uax, umx, unr, uop, usa, usx, ut2, ut3, utc, utx, uvx, uxx, vmf, vtf, w3g, w3x, wtd, wtf, ccd, cd, cso, disk, dmg, dvd, fcd, flp, img, iso, isz, md0, md1, md2, mdf, mds, nrg, nri, vcd, vhd, snp, bkf, ade, adpb, dic, cch, ctt, dal, ddc, ddcx, dex, dif, dii, itdb, itl, kmz, lcd, lcf, mbx, mdn, odf, odp, ods, pab, pkb, pkh, pot, potx, pptm, psa, qdf, qel, rgn, rrt, rsw, rte, sdb, sdc, sds, sql, stt, t01, t03, t05, tcx, thmx, txd, txf, upoi, vmt, wks, wmdb, xl, xlc, xlr, xlsb, xltx, ltm, xlwx, mcd, cap, cc, cod, cp, cpp, cs, csi, dcp, dcu, dev, dob, dox, dpk, dpl, dpr, dsk, dsp, eql, ex, f90, fla, for, fpp, jav, java, lbi, owl, pl, plc, pli, pm, res, rnc, rsrc, so, swd, tpu, tpx, tu, tur, vc, yab, 8ba, 8bc, 8be, 8bf, 8bi8, bi8, 8bl, 8bs, 8bx, 8by, 8li, aip, amxx, ape, api, mxp, oxt, qpx, qtr, xla, xlam, xll, xlv, xpt, cfg, cwf, dbb, slt, bp2, bp3, bpl, clr, dbx, jc, potm, ppsm, prc, prt, shw, std, ver, wpl, xlm, yps, md3.

Để sử dụng XoristDecryptor, các bạn tải file nén tại đây, giải nén ra 1 thư mục hoặc ổ cứng bất kỳ và chạy file XoristDecryptor.exe. Chờ quá trình quét kết thúc, các bạn nên khởi động lại máy tính.
PmaxKiller

Đây là công cụ tiện ích được sử dụng để xóa bỏ dòng Rootkit.Win32.PMax – chúng chuyên lây nhiễm vào các hệ điều hành Microsoft Windows 2000, XP, 2003, Vista, 2008 và 7 phiên bản 32 bit. Còn đối với hệ 64 bit thì không bị ảnh hưởng bởi loại mã độc này.

1 số dấu hiệu điển hình của máy tính khi nhiễm loại Rootkit này, các chương trình bảo mật bị ngắt giữa chừng khi đang quét hoặc hoạt động. Bên cạnh đó, tính năng DACL (Discretionary Access Control List) được thiết lập cho các file thực thi bị ngăn chặn không thể khởi động, do đó khi bạn cố gắng kích hoạt 1 chương trình nào đó thì hệ thống sẽ hiển thị thông báo lỗi không được phép do không có quyền.

Nếu sử dụng Gmer để theo dõi các tiến trình, bạn sẽ thấy các module ẩn với đường dẫn có chứa ký tự lạ __max++>:
Cũng như các công cụ khác của Kaspersky, các bạn chỉ cần tải file nén của PMaxKiller tại đây về máy tính, giải nén và kích hoạt file PMaxKiller.exe. Chờ đợi quá trình quét kết thúc và khởi động lại máy tính.

KL Anti-FunLove

Đây là công cụ hỗ trợ chuyên dùng để xóa bỏ hoàn toàn sự có mặt của loại sâu Win32.FunLove ra khỏi máy tính. Quá trình cài đặt và sử dụng rất đơn giản, vì đây là chương trình có giao diện đồ họa, các bạn tải file nén của KL Anti-FunLove tại đây, giải nén và chạy file KL Anti-FunLove.exe:
Nhấn Install để cài đặt, sau đó khởi động lại máy tính. Khi hệ điều hành khởi động lên, chương trình sẽ tiến hành quét trong phần bộ nhớ, ổ cứng … toàn bộ quá trình này đều được hiển thị đầy đủ. Sau khi quá trình quét và xóa bỏ mã độc kết thúc, bạn nên khởi động lại hệ thống 1 lần nữa. Nếu hệ thống hoạt động không ổn định, hãy gỡ bỏ các chương trình bảo mật và cài lại.

Digita_Cure


Khi máy tính của bạn không thể kết nối Internet, đồng thời nhận được những thông báo bằng ngôn ngữ lạ thì có thể máy tính đã bị nhiễm Trojan-Ransom.Win32.Digitala – bao gồm các biến thể sau Get Accelerator, Digital Access, Get Access, Download Manager v1.34. Chúng có khả năng ngăn chặn các kết nối từ hệ thống tới Internet, đồng thời thông báo với người sử dụng phải chấp nhận thỏa thuận từ phía tin tặc bằng cách cung cấp thông tin cá nhân cho chúng, sau đó sẽ được “mở khóa” và truy cập Internet như bình thường.

Dưới đây là 1 số mẫu, với dòng Digital Access:
Get Accelerator:
Get Access:
và Download Manager v1.34:
Để sử dụng Digita_Cure, các bạn tải file này về máy tính, giải nén và chạy file Digita_Cure.exe:
Lưu ý rằng tiện ích này chỉ hoạt động với bản 32 bit của hệ điều hành Microsoft Windows 2000, XP, 2003, Vista, 2008 và 7, vì bản 64 bit không bị ảnh hưởng bởi Trojan-Ransom.Win32.Digitala.

Anti-Nimda

Đây là công cụ cuối cùng trong danh sách hỗ trợ của Kaspersky, chuyên dùng để “điều trị” loại virus I-Worm.Nimda, vốn lây lan mạnh mẽ qua Internet bằng trình duyệt Internet Explorer. Tải file antinimd, giải nén và chạy file antinimd.exe. Chờ quá trình quét này kết thúc và khởi động lại máy tính. Kiểm tra lại sự tồn tại của các thư viện hệ thống bằng chức năng Search với tên: MMC.EXE, RICHED20.DLL, LOAD.EXE RICHED20.DLL, MMC.EXE (Microsoft Management Console). Nếu bất kỳ file DLL nào bị phát hiện có dấu hiệu bị lây nhiễm, các bạn nên xóa bỏ chúng đi và thay thế bằng DLL “sạch” trên máy tính khác có cùng hệ điều hành.

Một lần nữa, chúng tôi khuyên các bạn nên sử dụng các chương trình an ninh của những hãng danh tiếng, có uy tín như Kaspersky, BitDefender, Avira, Norton, Panda … tất cả đều có sẵn trên gian hàng của công ty cổ phần mạng trực tuyến Meta. Các bạn có thể tham khảo thêm chi tiết tại đây hoặc đây. Chúc các bạn thành công!
T.Anh (theo Kaspersky Lab)