About The Author

Sharing Tutorials on Using Computers, Basic, Simple and Easy Tips on Using Internet, Tricks and Techniques That I've Learnt Thus Far.

Email subscription

Pages

Showing posts with label linux. Show all posts
Showing posts with label linux. Show all posts

1.01.2011

Chuyển từ chữ hoa sang chữ thường và ngược lại

TUTSVNN.TK : Chuyển từ chữ hoa sang chữ thường và ngược
 lại như thế nào? Trong linux có hơn một cách để làm điều này:
  • dd
    $ dd if=input.txt of=output.txt conv=lcase
  • tr
    $ tr '[:upper:]' '[:lower:]' < input.txt > output.txt
  • awk
    $ awk '{ print tolower($0) }' input.txt > output.txt
  • perl
    $ perl -pe '$_= lc($_)' input.txt > output.txt
  • sed
    $ sed -e 's/\(.*\)/\L\1/' input.txt > output.txt
Làm ngược lại: chuyển chữ hoa thành chữ thường:
  • dd
    $ dd if=input.txt of=output.txt conv=ucase
  • tr
    $ tr '[:lower:]' '[:upper:]' < input.txt > output.txt
  • awk
    $ awk '{ print toupper($0) }' input.txt > output.txt
  • perl
    $ perl -pe '$_= uc($_)' input.txt > output.txt
  • sed
    $ sed -e 's/\(.*\)/\U\1/' input.txt > output.txt
     
    TUTSVNN.TK 

12.07.2010

Điều khiển máy tính bằng giọng nói trên Linux

Chắc hẳn bạn đã nghe rất nhiều đến những phần mềm điều khiển máy tính bằng giọng nói nhưng hầu hết những phần mềm ấy đều chỉ chạy trên nền tảng Windows. Để tìm được phần mềm tương tự trên Linux thực sự không phải điều dễ dàng. Nhưng VEDICS đã làm được "điều không dễ dàng" ấy.
Đầu tiên các bạn tải phần mềm VEDICS tại đây. Sau khi tải về bạn tiến hành giải nén, chạy files Install.sh (chế độ Run in Terminal) và làm theo hướng dẫn để cài đặt. Để chạy chương trình bạn vào Applications > Universal Access > VEDICS (Lưu ý là chương trình sẽ chạy ẩn nên bạn sẽ không thấy bất cứ cửa sổ nào hiện ra).
Để máy tính của bạn làm việc theo mệnh lệnh thì không thể không nhớ những câu "thần chú" sau:
Các điều khiển cửa sổ:
Maximize Window: phóng lớn cửa sổ.
Minimize Window: thu nhỏ cửa sổ.
Close Windows: đóng cửa sổ.
Show Desktop: thu nhỏ tất cả cửa sổ (tương tự chức năng Show Desktop của Window)
Các lệnh chạy ứng dụng:
Run Browser: mở trình duyệt mặc định.
Run Terminal: mở cửa sổ Terminal.
Run Mail: mở chương trình quản lý Mail.
Ngoài ra còn khá nhiều lệnh khác giúp bạn điều khiển máy tình của mình được tốt hơn (xem thêm trong files Complete command Set of Vedics.pdf).
Không chỉ giới hạn ở những câu lệnh được định nghĩa sẵn, bạn hoàn toàn có thể điều khiển mọi thứ theo ý mình bằng cách Speech to Run. Chẳng hạn, để mở menu Applications bạn chỉ cần nói Applications, tương tự để di chuyển đến menu Internet bạn hãy nói Internet.
Nói chung, đây là một phần mềm hỗ trợ khá tốt việc điều khiển máy tính bằng giọng nói. Tuy nhiên, chương trình vẫn chưa hỗ trợ người dùng tự thiết lập lệnh cho một chương trình nào đó. Nhưng dù sao đây cũng là phần mềm đáng để sử dụng trong máy tính của bạn.
Một số video demo của chương trình: http://www.youtube.com/user/bharatj7

Những bước cơ bản để làm chủ hệ thống Linux

Mỗi người khi bắt đầu sử dụng Linux đều có những điểm chung nhất định, trừ khi bạn đã từng tiếp xúc và kiến thức về hệ điều hành Unix trước đó. Nhiều người đã lựa chọn phương pháp tham khảo qua Google hoặc StackExchange để dần tiếp cận với những kiến thức cơ bản nhất, nhưng lại gặp nhiều bất cập khi không được thực hành đầy đủ. Trong bài viết dưới đây, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu với các bạn một số cách cơ bản để vượt qua ngưỡng “người bắt đầu sử dụng Linux” một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất.
Bước 1: bắt đầu bằng việc cài Linux trên phân vùng ổ cứng:
Nếu bạn đang đọc bài viết này, hãy cố gắng bắt đầu bằng việc cài và tìm hiểu về Linux qua Ubuntu hoặc Fedora. Những hệ thống Linux desktop này được thiết kế và phát triển để phù hợp với tất cả mọi người, rất đơn giản và dễ sử dụng. Điều quan trọng ở đây là bạn phải làm trên thực tế, phân vùng ổ cứng vật lý (trái ngược với việc sử dụng Wubi), quá trình này sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách định dạng phân vùng và sự quan trọng của swap:
Bước 2: tìm hiểu về cấu trúc file hệ thống:
Bước này đặc biệt vô cùng quan trọng nếu bạn bắt đầu chuyển sang từ Windows. 2 hệ điều hành này áp dụng phương pháp lưu trữ dữ liệu hoàn toàn khác nhau, với Windows, tất cả mặc định được cài đặt vào thư mục hệ thống Program Files, còn trong Linux, cách thức đó có đôi chút khác biệt và phức tạp, nhưng đã mang lại khá nhiều lợi thế dành cho người sử dụng:
1 gói cài đặt của Linux thông thường sẽ thay thế file thực thi của ứng dụng trong thư mục như /usr/bin, file tùy chỉnh /etc và toàn bộ file log /var. Tại sao lại chia ra như vậy? Chúng ta có thể hiểu ngắn gọn như sau, hệ thống được thiết lập như vậy để cho phép mỗi người dùng hoặc quản trị nào đều có thể làm việc với toàn bộ các file có liên quan. Ví dụ, nếu muốn cài lại hệ điều hành đã có quá nhiều ứng dụng và thiết lập riêng, bạn chỉ cần sao lưu thư mục /etc, sau đó copy đè vào thư mục tương ứng trên hệ điều hành mới cài là được.
Bước 3: biên dịch kernel:
Khi tới bước này, rất nhiều người đã ngần ngại và dừng bước. Sự thật khá đơn giản là quá trình biên dịch kernel này không quá phức tạp như mọi người vẫn thường nghĩ. Chỉ cần sử dụng vài dòng lệnh, tìm hiểu bản chất của vấn đề, và kiên nhẫn trong 1 khoảng thời gian nhất định. Thông thường, việc chỉnh lại những kernel đã được xây dựng sẵn chỉ đơn giản như duyệt web với danh sách các tùy chọn, bạn chỉ việc chọn lấy những thành phần phù hợp nhất. Nhiều sự lựa chọn đi kèm với thiết lập được yêu cầu sẽ giúp người sử dụng không phải mất nhiều thời gian suy nghĩ:
Bên cạnh đó, bạn có thể tham khảo thêm về vấn đề này tại đây.
Bước 4: cài đặt Gentoo:
Ngoài ra, có khá nhiều bản phân phối dựa trên mã nguồn chính đã được công bố, và Gentoo là ứng dụng phổ biến nhất. Trong khi những sản phẩm khác của Linux như Ubuntu và Fedora thường sử dụng các gói cài đặt có sẵn, Gentoo chỉ lấy mã nguồn, và tiến hành biên dịch từ mã nguồn đó thành chương trình ứng dụng. Và tất nhiên, cách áp dụng nào cũng có ưu điểm và nhược điểm riêng, với Gentoo là tốc độ và sự ổn định. Mặt khác, người sử dụng Gentoo có thể thiết lập các flag riêng biệt của hệ thống, bên cạnh những thành phần khác. Ví dụ như Firefox, khi người dùng yêu cầu những gói hoặc thông tin có liên quan, chức năng quản lý phần mềm của Gentoo sẽ tiến hành tìm kiếm các gói mã nguồn của Firefox và tải về hệ thống. Đồng thời, kiểm tra các thông tin flag của người dùng và xây dựng, biên dịch gói riêng biệt đã được tối ưu hóa cho hệ thống đó:
Quá trình cài đặt ứng dụng trên Gentoo không đơn giản, hầu hết được thực hiện qua dòng lệnh, các bạn nên tham khảo bài viết hướng dẫn cơ bản sau để nắm được kiến thức cơ bản.
Bước 5: học các ngôn ngữ lập trình:
Trong khi C là ngôn ngữ được lựa chọn dành cho hệ thống dựa trên Linux, các chương trình, ứng dụng khác được gắn chặt với nhau sử dụng cac ngôn ngữ nâng cao khác như Python... Việc tìm hiểu cặn kẽ về những ngôn ngữ này sẽ giúp bạn rất nhiều trong việc quản lý và tối ưu hóa hệ thống.
Bước 6: cài Linux từ những bản “nháp”:
Tại mục trên, chúng tôi đã đề cập đến việc cài đặt ứng dụng trong Gentoo gần như phải làm bằng phương pháp thủ công. Để chắc chắn, các bạn hãy tham khảo dự án Linux From Scratch (LFS), đây thực chất là chuỗi các bài hướng dẫn, ví dụ... cụ thể về việc cài đặt Linux trực tiếp từ mã nguồn. Tại đây không hề có ứng dụng quản lý phần mềm, không có trình cài đặt cụ thể, không công cụ hỗ trợ... các bạn chỉ việc tiến hành làm theo mẫu có sẵn, và tìm hiểu cặn kẽ về bản chất, làm sao để tạo ra 1 hệ thống hoạt động hoàn chỉnh. Chúng tôi cần lưu ý 1 điều rằng các khuôn mẫu của LSF không phù hợp với những người thiếu kiên trì hoặc nóng vội, bởi vì những bước tiếp cận ban đầu với Linux không hề đơn giản, nhưng cũng không quá phức tạp.
Trên đây là những ý kiến đóng góp, tổng hợp được cộng đồng người sử dụng chia sẻ. Chúng tôi mong nhận được thông tin hữu ích từ phía bạn đọc để xây dựng nguồn vốn kiến thức đối với hệ điều hành Linux ngày càng đầy đủ và đa dạng hơn. Chúc các bạn thành công!

T.Anh (theo Make Tech Easier)

12.04.2010

10 mẹo “làm chủ” các câu lệnh Linux đơn giản hơn

Khi bắt đầu làm quen và sử dụng Linux, 1 trong những “trở ngại” lớn nhất với hầu hết mọi người là chức năng điều khiển, quản lý hệ thống bằng dòng lệnh – command. Và trong bài viết dưới đây, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu với các bạn 1 số website, tài liệu tham khảo, công cụ và những mẹo cần thiết để dần dần làm quen với điều này.

Website:

1. http://linuxcommand.org/

Nếu bạn là người hoàn toàn mới, nghĩa là chưa có chút khái niệm nào về Linux command thì đây là 1 trong những địa chỉ phù hợp nhất. Có thể so sánh website này như 1 ngôi trường dạy nghề, từ những điều cơ bản nhất, ví dụ như: câu lệnh – shell là gì, cho tới những phần nâng cao dành cho người đã có kinh nghiệm như làm thế nào để tự viết 1 câu lệnh của riêng bạn?
2. http://www.commandlinefu.com/

Có rất nhiều trường hợp bạn định làm 1 việc gì đó với Terminal nhưng lại không thể nhớ chính xác câu lệnh là gì. Nếu lâm vào tình huống như vậy, các bạn hãy nhớ đến CommandLineFu – với mô hình khác giống với 1 “mạng xã hội” thu nhỏ. Tại đây, mọi người chia sẻ các câu lệnh và cú pháp cơ bản, và bạn chỉ việc tham khảo, copy, paste và áp dụng thay vì phải ngồi gõ từng ký tự.

3. http://www.shell-fu.org/lister.php

Khá giống với CommandlineFu, ShellFu là 1 lựa chọn khá tốt nếu bạn muốn tự mình tìm hiểu về các dòng lệnh, cú pháp, chức năng... qua ví dụ và hướng dẫn cụ thể. Đối với nhiều người, ShellFu có vẻ giống như 1 trang blog hơn nếu đem so sánh với mô hình mạng xã hội, được quản lý, điều tiết cẩn thận nhưng không có chức năng vote bên trong.

4. http://www.oreillynet.com/linux/cmd/ và http://ss64.com/bash/

2 địa chỉ hoàn hảo và toàn diện, với nội dung đa dạng, được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái, người sử dụng sẽ cảm thấy thuận tiện hơn rất nhiều với chức năng tìm kiếm tại đây.

Các công cụ hỗ trợ:

5. CLI Companion:

Có thể coi đây là sự thay thế khá tốt cho ứng dụng Terminal mặc định của hệ thống. Được chia làm 2 phần chính, bên trên là thư viện các câu lệnh, cú pháp, và dưới là phần thực hiện. Bạn có thể cuộn chuột lên xuống trong thư viện, chọn cú pháp lệnh phù hợp, kích chuột phải và chọn Apply:
CANON - HÀNG CHÍNH HÃNG - BẢO HÀNH CHÍNH HÃNG

Hoặc sử dụng lệnh sau để cài đặt trong hệ điều hành Ubuntu:

sudo add-apt-repository ppa:clicompanion-devs/clicompanion-nightlies
sudo apt-get update
sudo apt-get install clicompanion

6. Ebook – Bash Guide For Beginners:

Dành cho những người mới bắt đầu tìm hiểu về cấu trúc lệnh cơ bản, các bạn hãy tải cuốn sách điện tử Bash Guide For Beginners này và đọc ở bất cứ đâu, trên máy tính hoặc điện thoại di động. Cuốn sách này chứa hầu hết các điều cơ bản nhất về cú pháp lệnh, được trình bày đơn giản, dễ hiểu và phù hợp với nhiều người (cơ bản và nâng cao).

Các mẹo hướng dẫn:

7. Bash Autocompletion:

1 mẹo được sử dụng khá phổ biến và rộng rãi ở đây là chức năng tự động hoàn thiện cú pháp theo chuẩn – autocompletion. Phím tắt sử dụng ở đây là Tab, ví dụ khi bạn gõ được 1 nửa câu lệnh, khi nhấn Tab hệ thống sẽ tự động hoàn chỉnh cú pháp này cho bạn.
8. Tạo các alias:

Nếu bạn thường xuyên sử dụng những câu lệnh giống nhau nhiều lần, hãy sử dụng alias. Tương tự như việc khai báo 1 biến dành cho 1 cụm mã chức năng, thay thế dòng lệnh dài bằng ký tự bất kỳ của bạn:
9. Quản lý các quá trình làm việc của câu lệnh:

Trong phần này, hệ thống lưu trữ tất cả danh sách các câu lệnh bạn đã từng sử dụng trước kia. Sử dụng phím mũi tên di chuyển lên xuống để xem lại các lệnh ở trên, khá đơn giản và hiệu quả.

10. Sử dụng các chức năng lệnh khác nhau:

Là kết quả khi người sử dụng thực hiện 1 cú pháp câu lệnh nào đó, hầu hết mọi người đều sử dụng màu sắc mặc định (màu nâu) của hệ thống mà không hề biết rằng có thể thay đổi thiết lập cơ bản, qua đó dễ dàng phân biệt giữa những dữ liệu khác nhau như cú pháp của câu lệnh hoặc kết quả khi được thực hiện.

Trên đây là một vài điều cơ bản đóng góp và chia sẻ với những người mới bắt đầu làm quen và sử dụng Linux. Nếu bạn đọc có ý kiến và kinh nghiệm của riêng mình, vui lòng chia sẻ với Quản Trị Mạng qua mục góp ý bên dưới. Chúc các bạn thành công!



T.Anh (theo Make Tech Easier)

Linux cứu hộ máy tính Windows nhiễm virus

tê liệt” do nhiễm virus.
CANON - HÀNG CHÍNH HÃNG - BẢO HÀNH CHÍNH HÃNG
Hệ điều hành Windows là một trong những mục tiêu ưa chuộng của tin tặc. Khi Windows nhiễm virus, máy tính sẽ trở nên chậm chạm, thậm chí không thể hoạt động. Hơn nữa, virus từ máy tính đã bị lây nhiễm có thể phát tán cho hàng loạt máy tính khác. Lúc này, có lẽ bạn sẽ cần đến các giải pháp cứu hộ máy tính, “tiêu diệt” virus. Và Linux là giải pháp bạn nên nghĩ đến.
1. Dùng Linux trực tiếp trên CD hay USB
Linux trực tiếp trên CD (LiveCD) hay USB (Live USB) cho phép bạn khởi động Linux từ đĩa CD hoặc USB mà không phải cài vào ổ cứng. Điều này rất thuận lợi nếu bạn muốn dùng thử Linux hay cứu hộ Windows không thể khởi động.
Bạn có thể tải về bản Linux có dạng tập tin .iso, ghi ra đĩa CD hay chép vào USB, hãy giữ đó, sẽ có lúc bạn cần, như trong trường hợp này. Hiện Ubuntu là hệ điều hành nguồn mở khá phổ biến, nên bài viết sẽ hướng dẫn bạn đọc cách dùng Ubuntu cứu hộ máy tính Windows.
Ubuntu 10.10 hiện có thể tải về từ trang http://www.ubuntu.com. Bạn cũng có thể chọn tải về các bản Linux khác tại FrozenTech. Một tiện ích cũng rất đáng giá, UNetbootin, cho phép tạo Live USB cho Ubuntu, Fedora, và các bản Linux khác mà không cần ghi ra đĩa. Tiện ích này có thể chạy trên hệ điều hành Windows hay Linux.
Dù chọn dùng LiveCD hay Live USB, bạn cũng cần một máy tính kết nối Internet để tải bản cài đặt về. Nếu kết nối Internet chậm, bạn có thể đặt mua LiveCD hay USB qua email. Cả OSDisc và LinuxCD đều cung cấp cho bạn nhiều tùy chọn, giá khoảng 2 đô la Mỹ (2USD, ~38.000đ).
2. Khởi động Ubuntu
Khi đã có trong tay bản Ubuntu LiveCD hay USB, trước tiên bạn cần tắt máy tính bị nhiễm virus, sau đó mở lại máy tính và đồng thời bỏ đĩa LiveCD hay gắn bút lưu trữ USB vào máy tính. Lúc này máy tính sẽ khởi chạy Ubuntu trực tiếp từ đĩa LiveCD hay USB.
3. Tải phần mềm chống virus
Khi Ubuntu khởi chạy xong, bạn hãy tải về máy tính phần mềm chống virus. Bạn có thể tùy chọn các phần mềm chống virus tương thích Linux. Bài viết này đề xuất bạn tải về phần mềm chống virus ClamAV, từ ClamTK.
Từ giao diện màn hình chính của Ubuntu, vào mục Applications>Ubuntu Software Center, chọn Edit>Software Sources. Bạn sẽ thấy ô chọn có tiêu đề “Downloadable from the Internet”, bạn cần chọn tất cả 4 ô trước khi nhấn Close.
Tiếp theo, từ trang Ubuntu Software Center, nhấn vào biểu tượng Accessories và gõ chữ ClamTK vào ô tìm kiếm. Bạn sẽ nhìn thấy xuất hiện chữ “Virus Scanner”, nếu bạn muốn kiểm tra xem đúng trang web chứa phần mềm chống virus ClamAV hay không, hãy nhấn More Info. Nhấn Install để tải chương trình ClamAV về máy tính.
Khi quá trình cài đặt hoàn tất, trên trình đơn chính của Ubuntu, vào mục Applications > Accessories > Virus Scanner.
4. Quét virus
Khi cửa sổ chương trình ClamAV mở ra, nhấn thẻ Scan và chọn Recursive Scan. Recursive Scan là kiểu quét virus vào trong từng thư mục cha (parent directory), thư mục con (children directory). Tiếp theo chọn ổ đĩa trên máy tính mà bạn muốn ClamAV quét. Hãy chọn ổ đĩa chứa HĐH Windows. Tiến trình quét virus có thể mất chút ít thời gian, và khi phát hiện ra virus, bạn có thể tùy chọn hướng xử lý cách ly (quarantine) hay xóa bỏ (removal) hay cả 2 cách, để chương trình thực hiện.
5. Máy tính hoạt động trở lại bình thường
Giả sử virus đã được loại bỏ hoàn toàn trên máy tính. Hãy lấy đĩa LiveCD hay USB ra, và khởi động lại máy tính. Lúc này máy tính sẽ khởi động trở lại vào Windows.
Vậy là bạn đã thành công trong việc dùng Linux cứu hộ máy tính Windows bị nhiễm virus. Hãy giữ bên mình bản Linux LiveCD hay LiveUSB để khi “hữu sự” có cái mà dùng.

Theo PCWorld

11.25.2010

Cài đặt Microsoft Office trong Linux

“Play On Linux” nghe giống như một trò chơi nhưng thực ra lại là một phần mềm hết sức hữu ích giúp bạn có thể cài đặt và chạy các ứng dụng Windows bao gồm cả Microsoft Office trên Linux.
Với PlayOnLinux bạn sẽ dễ dàng cài đặt bộ Office mà không cần phải cài đặt thủ công các file DLL, không phải quan tâm đến phiên bản Wine nào tương thích và cũng không cần phải cài IE để giúp mọi thứ hoạt động tốt.
PlayOnLinux hỗ trợ 3 phiên bản MS Office là MS Office 2000, 2003 và 2007 trên rất nhiều hệ điều hành Linux phổ biến như Ubuntu, Fedora, Gentoo, Opensuse ... Để tiến hành cài đặt MS Office bạn thực hiện theo các bước dưới đây.
Cài đặt và chạy PlayOnLinux
Để cài đặt PlayOnLinux bạn có thể truy cập vào trang download để tải về gói cài đặt và xem hướng dẫn cài đặt chi tiết cho từng hệ điều hành. Sau khi cài đặt xong bạn chạy ứng dụng này và nhấn vào nút “Install” rồi chọn mục “Office” như hình dưới.
Chuẩn bị bộ cài Office
Tiếp theo bạn cần phải chuẩn bị sẵn đĩa cài Microsoft Office, bỏ đĩa vào ổ CD rồi xác định chính xác đường dẫn của ổ đĩa CD (đây là thư mục hệ điều hành tự động mount ổ CD khi bạn cho đĩa vào).
Nếu không có ổ CD, bạn có thể tải về file ISO rồi giải nén hoặc copy bộ cài từ một nơi khác vào một thư mục của máy Linux.
Tiến hành cài đặt
Sau khi đã chuẩn bị xong bộ cài, bạn quay lại màn hình ứng dụng PlayOnLinux và chọn phiên bản Office bạn muốn cài. Ứng dụng sẽ yêu cầu bạn chọn nơi chứa bộ cài.
Nếu bạn nhìn thấy ổ đĩa CD thì chỉ cần chọn nó. Nếu không thấy bạn có thể chọn “Other” và điền đường dẫn của thư mục chứa bộ cài vào đây.
Từ bước này trở đi bạn chỉ cần nhấn “Next” vài lần, nhập product key, PlayOnLinux sẽ tự cài đặt mọi thứ cần thiết để Microsoft Office có thể chạy bao gồm cả IE và Microsoft font.
Nếu bạn không được hỏi về việc tạo shortcut thì khả năng cao quá trình cài đặt đã không thành công vì một số lý do nào đó. Gặp trường hợp này bạn nên tiến hành cài đặt lại từ đầu và mọi thứ sẽ hoạt động tốt.
Nói chung việc bắt một ứng dụng của một nền tảng này chạy trên một nền tảng khác là một việc làm rất phức tạp. Tuy nhiên PlayOnLinux đã thực hiện giúp chúng ta những bước phức tạp nhất trong chuỗi công việc này, và quan trọng hơn nữa là nó hoàn toàn miễn phí. Nhờ đó người dùng giờ đây hoàn toàn có thể sử dụng Microsoft Office quen thuộc trên hệ điều hành Linux.
Theo Makeuseof

11.01.2010

Tìm hiểu về Linux Kernel và những chức năng chính của chúng

Với hơn 13 triệu dòng lệnh, Linux kernel là 1 trong những dự án mã nguồn mở rộng lớn nhất trên thế giới, nhưng chính xác chúng là gì và chúng làm gì trong hệ thống?

Kernel là gì?
Khái niệm kernel ở đây nói đến những phần mềm, ứng dụng ở mức thấp (low-level) trong hệ thống, có khả năng thay đổi linh hoạt để phù hợp với phần cứng. Chúng tương tác với tất cả ứng dụng và hoạt động trong chế độ user mode, cho phép các quá trình khác – hay còn gọi là server, nhận thông tin từ các thành phần khác qua inter-process communication (IPC).

Các loại kernel khác nhau

Về bản chất, có nhiều cách để xây dựng cấu trúc và biên dịch 1 bộ kernel nhất định từ đầu. Nhìn chung, với hầu hết các kernel hiện nay, chúng ta có thể chia ra làm 3 loại: monolithic, microkernel, và hybrid. Linux sử dụng kernel monolithic trong khi OS X (XNU) và Windows 7 sử dụng kernel hybrid.

Microkernel:

Microkernel có đầy đủ các tính năng cần thiết để quản lý bộ vi xử lý, bộ nhớ và IPC. Có rất nhiều thứ khác trong máy tính có thể được nhìn thấy, tiếp xúc và quản lý trong chế độ người dùng. Microkernel có tính linh hoạt khá cao, vì vậy bạn không phải lo lắng khi thay đổi 1 thiết bị nào đó, ví dụ như card màn hình, ổ cứng lưu trữ... hoặc thậm chí là cả hệ điều hành. Microkernel với những thông số liên quan footprint rất nhỏ, tương tự với bộ nhớ và dung lượng lưu trữ, chúng còn có tính bảo mật khá cao vì chỉ định rõ ràng những tiến trình nào hoạt động trong chế độ user mode, mà không được cấp quyền như trong chế độ giám sát - supervisor mode.

Ưu điểm:
 - Tính linh hoạt cao
 - Bảo mật
 - Sử dụng ít footprint cài đặt và lưu trữ

Nhược điểm:
 - Phần cứng đôi khi “khó hiểu” hơn thông qua hệ thống driver
 - Phần cứng hoạt động dưới mức hiệu suất thông thường vì các trình điều khiển ở trong chế độ user mode
 - Các tiến trình phải chờ đợi để được nhận thông tin
 - Các tiến trình không thể truy cập tới những ứng dụng khác mà không phải chờ đợi

Monolithic Kernel:

Với Monolithic thì khác, chúng có chức năng bao quát rộng hơn so với microkernel, không chỉ tham gia quản lý bộ vi xử lý, bộ nhớ, IRC, chúng còn can thiệp vào trình điều khiển driver, tính năng điều phối file hệ thống, các giao tiếp qua lại giữa server... Monolithic tốt hơn khi truy cập tới phần cứng và đa tác vụ, bởi vì nếu 1 chương trình muốn thu thập thông tin từ bộ nhớ và các tiến trình khác, chúng cần có quyền truy cập trực tiếp và không phải chờ đợi các tác vụ khác kết thúc. Nhưng đồng thời, chúng cũng là nguyên nhân gây ra sự bất ổn vì nhiều chương trình chạy trong chế độ supervisor mode hơn, chỉ cần 1 sự cố nhỏ cũng khiến cho cả hệ thống mất ổn định.

Ưu điểm:
 - Truy cập trực tiếp đến các phần cứng
 - Dễ dàng xử lý các tín hiệu và liên lạc giữa nhiều thành phần với nhau
 - Nếu được hỗ trợ đầy đủ, hệ thống phần cứng sẽ không cần cài đặt thêm driver cũng như phần mềm khác
 - Quá trình xử lý và tương tác nhanh hơn vì không cần phải chờ đợi

Nhược điểm:
 - Tiêu tốn nhiều footprint cài đặt và lưu trữ
 - Tính bảo mật kém hơn vì tất cả đều hoạt động trong chế độ giám sát - supervisor mode

Hybrid Kernel: 

Khác với 2 loại kernel trên, Hybrid có khả năng chọn lựa và quyết định những ứng dụng nào được phép chạy trong chế độ user hoặc supervisor. Thông thường, những thứ như driver và file hệ thống I/O sẽ hoạt động trong chế độ user mode trong khi IPC và các gói tín hiệu từ server được giữ lại trong chế độ supervisor. Tính năng này thực sự rất có ích vì chúng đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống, phân phối và điều chỉnh công việc phù hợp, dễ quản lý.

Ưu điểm:
 - Các nhà phát triển có thể chọn và phân loại những ứng dụng nào sẽ chạy trong chế độ thích hợp
 - Sử dụng ít footprint hơn so với monolithic kernel
 - Có tính linh hoạt và cơ động cao nhất

Nhược điểm:
 - Có thể bị bỏ lại trong quá trình gây treo hệ thống tương tự như với microkernel
 - Các trình điều khiển thiết bị phải được quản lý bởi người dùng

Vậy những file Linux Kernel này ở đâu?

Các file kernel này, trong Ubuntu chúng được lưu trữ tại thư mục /boot và đặt tên theo vmlinuz-version. Khi bộ nhớ ảo bắt đầu được phát triển để thực hiện các tác vụ đa luồng, tiền tố vm sẽ được đặt vào đầu các file kernel để phân biệt khả năng hỗ trợ công nghệ ảo hóa. Kể từ đó, Linux kernel được gọi là vmlinux, nhưng hệ thống kernel này đã phát triển với tốc độ quá nhanh, lớn hơn so với dung lượng bộ nhớ boot chuẩn của hệ điều hành, vì vậy những file kernel này đã được nén theo chuẩn zlib – và ký tự z được thêm vào là do như vậy. Ngoài ra còn 1 số định dạng nén thường gặp khác là LZMA hoặc BZIP2, nhưng chúng vẫn được gọi chung là zImage.

Các phiên bản được sắp xếp thứ tự theo định dạng A.B.C.D, trong đó A.B thường là 2.6, C đại diện cho phiên bản, và D là ký hiệu các bản vá lỗi hoặc patch:
Trong thư mục /boot còn có rất nhiều file quan trọng khác như, initrd.img-version, system.map-version, và config-version. File initrd được dùng như 1 ổ đĩa RAM để giải nén và kích hoạt các file kernel thực sự, còn file system.map được dùng để quản lý bộ nhớ trước khi kernel được tải đầy đủ, và file config làm nhiệm vụ thông báo cho kernel biết những lựa chọn hoặc module nào sẽ được nạp vào quá trình hệ thống khởi động.

Cấu trúc file Linux Kernel
Thực tế, Windows đã có tất cả các trình điều khiển sẵn có và người sử dụng chỉ việc kích hoạt các trình điều khiển tương ứng để sử dụng. Và đó cũng chính là nhiệm vụ các module kernel Linux đảm nhiệm, hay còn được gọi là loadable kernel module (LKM), rất cần thiết để giữ các chức năng đi kèm với toàn bộ hệ thống phần cứng hoạt động mà không ảnh hưởng đến bộ nhớ. 1 module thông thường sẽ gán chức năng cơ bản tới các kernel như điều khiển driver, file hệ thống... LKM có phần đuôi mở rộng là .ko và được lưu trữ trong thư mục /lib/modules, người sử dụng có thể thiết lập thuộc tính tự khởi động, cho phép tải hoặc không trong khi hệ điều hành khởi động, bằng cách dùng lệnh menuconfig, can thiệp vào file /boot/config, hoặc bằng cách sử dụng lệnh modprobe.
Các module của các hãng thứ 3 thường có sẵn trên 1 số distributor, ví dụ như Ubuntu, hoặc không được tích hợp sẵn ở chế độ mặc định. Các nhà phát triển phần mềm (ví dụ nVidia, ATI hoặc các hãng khác), không cung cấp mã nguồn nhưng họ đã tự xây dựng và biên dịch các module cần thiết, sau đó cung cấp cho người sử dụng file .ko. Và tất nhiên, có nhiều module hoàn toàn miễn phí, trong khi một số khác thì không.

Như vậy, các bạn đã có thể hình dung được sự quan trọng của kernel. Kernel của Linux khác hẳn so với Mac OS X và Windows bởi trình điều khiển driver cũng như cách thức quản lý và hỗ trợ khác. Trên đây là 1 số thông tin cơ bản và cần thiết giúp mọi người có thể hiểu được kernel là gì, chúng hoạt động như thế nào và tại sao chúng lại cần thiết như vậy. Chúc các bạn thành công!
T.Anh (theo HowToGeek)

Mã hóa dữ liệu ổ cứng trên Linux

Dữ liệu cá nhân trong ổ cứng là điều nhạy cảm và yêu cầu độ bảo mật tối đa, tùy vào nhu cầu và mục đích sử dụng trong công việc mà người dùng lựa chọn cách thức bảo vệ cho phù hợp. Trong bài viết sau, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu với các bạn cách mã hóa dữ liệu ổ cứng, cụ thể là từng phân vùng, thư mục trong hệ điều hành Linux với TrueCrypt và eCryptfs.


 
Mã hóa phân vùng ổ cứng 
Phiên bản đĩa cài đặt thay thế của Ubuntu cung cấp thêm cho người dùng 1 sự lựa chọn nữa để mã hóa phân vùng cài đặt Ubuntu, do vậy các bạn chỉ cần tải file ISO về máy, ghi ra đĩa CD/DVD hoặc tạo USB boot và tiến hành cài đặt Ubuntu sau đó.
Với quy trình cài đặt khá giống với với Ubuntu nguyên bản, bước đầu người sử dụng sẽ phải chọn ngôn ngữ hiển thị, kiểu bàn phím, hệ thống network, và bước quan trọng nhất đương nhiên là phân vùng cài đặt với lựa chọn Guided – use entire disk and set up encrypted LVM để áp dụng trên toàn bộ ổ cứng:
 
Lưu ý rằng chúng ta cần khai báo hoặc khởi tạo phân vùng Master hoặc không phải là Slave để bắt đầu cài đặt:
Khởi tạo khóa mật khẩu sử dụng để mã hóa ổ cứng khi đăng nhập vào Ubuntu:
 
Lựa chọn có muốn mã hóa thư mục gốc - home hay không, chỉ trong trường hợp chúng ta thay thế thư mục này bên ngoài phân vùng cài đặt Ubuntu:
 
Như vậy là chúng ta đã hoàn tất các bước cơ bản, các bạn chỉ cần thực hiện các bước tiếp theo để hoàn tất quá trình này. 
Mã hóa thư mục 
eCryptfs là 1 hệ thống mã hóa file dựa trên chuẩn PGP được tạo ra bởi Philip Zimmerman vào năm 1991. Điểm độc đáo của eCryptfs so với các công cụ mã hóa khác, như TrueCrypt, là không cần xác định trước dung lượng phân vùng hoặc ổ cứng chúng ta cần áp dụng. Để cài đặt eCryptfs, các bạn hãy sử dụng lệnh sau:
sudo aptitude install ecryptfs-utils
eCryptfs sẽ tạo ra 1 thư mục private trên ổ cứng nơi chương trình hoạt động và dùng để lưu trữ dữ liệu trong đó:
ecryptfs-setup-private
Lưu ý rằng quá trình này sẽ ẩn thư mục ~/.Private. Chúng ta nên lưu trữ các dữ liệu nhạy cảm trong thư mục private này để đảm bảo không ai có thể truy cập và sử dụng, vì ecryptfs sẽ giấu toàn bộ dữ liệu trong thư mục đó:
 
1 điểm khác là thư mục private này sẽ tự động xuất hiện trong hệ thống khi bạn đăng nhập, đồng thời đây cũng là cơ hội cho người khác sử dụng và truy cập khi bạn không ở bên cạnh máy tính. Chúng ta có thể áp dụng cách làm sau để khắc phục vấn đề này là ngăn chặn ecryptfs mở khóa các thư mục khi người dùng đăng nhập bằng cách xóa bỏ các file rỗng lưu trữ trong thư mục ~/.ecryptfs/ và “cách ly” thư mục này khi không sử dụng máy tính:
ecryptfs-umount-private
Tạo 1 phân vùng ẩn mã hóa riêng biệt
TrueCrypt là 1 tiện ích mã nguồn mở miễn phí dùng để bảo mật dữ liệu ổ cứng, có thể hoạt động với Windows, Mac và Linux. Ứng dụng với khả năng hoạt động nhanh chóng, hoàn toàn đảm bảo và đáng tin cậy, sau khi ổ cững được mã hóa, người dùng vẫn có thể tiếp tục sử dụng như bình thường.
Các bạn có thể tải TrueCrypt dưới dạng file Ubuntu deb tại đây. Sau khi tải file cài đặt về máy, hãy giải nén và cài đặt như bình thường. Mở TrueCrypt qua menu Applications > Accessories > TrueCrypt, và bắt đầu bằng việc tạo 1 phân vùng bất kỳ chúng ta muốn mã hóa:
 
Phân vùng của TrueCrypt có thể thay đổi kích thước dung lượng của file - hay còn gọi là container, trong 1 phân vùng hoặc ổ cứng bất kỳ nào đó:
 
Bên cạnh đó, chương trình cung cấp cho người dùng lựa chọn để tạo thêm phân vùng ẩn bên trong phân vùng riêng của TrueCrypt:
 
Các bạn nên copy những file trông giống như dữ liệu cá nhân nhạy cảm và quan trọng ra bên ngoài phân vùng đó, chúng sẽ đóng vai trò như những “mồi nhử” khi người khác ép buộc bạn phải tiết lộ mật khẩu. Trong khi những file thật sự bạn đang để bên trong phân vùng ẩn, và dĩ nhiên không nên để lộ phân vùng này:
Khi bạn đã chọn được phân vùng như ý và vị trí cần thiết để lưu trữ, 1 file mới sẽ được tạo ra. Nếu bạn chọn trùng với file đã có sẵn, chương trình sẽ ghi đè lên file đó, do vậy hãy cẩn thận trong bước làm này:
Bên cạnh đó là các mức mã hóa khác nhau, phổ biến nhất là chuẩn AES:
 
Khởi tạo dung lượng cho phân vùng, các bạn nhớ để ý đến dung lượng cần thiết dành cho phần còn lại của ổ cứng:
 
TrueCrypt khuyên người dùng nên đặt mật khẩu tối thiểu là 20 ký tự:
Di chuyển chuột đến bất cứ nơi nào trên màn hình khi cửa sổ Volume Creation Wizard hiển thị tối thiểu trong vòng 30 giây, quá trình này càng lâu thì càng tốt, để ứng dụng tăng cường khả năng mã hóa của các phím chức năng:
TrueCrypt sẽ tự động ghép và kích hoạt phân vùng mã hóa đó như 1 ổ cứng ảo trên hệ thống:
Tiếp theo là bước tùy chỉnh và thiết lập phân vùng ẩn:
Chọn 1 phân vùng đã định dạng phù hợp dành cho phân vùng ẩn:
Lựa chọn để tích hợp phân vùng ẩn này tương thích với các hệ điều hành khác:
 
Như các bạn đã thấy, việc mã hóa dữ liệu rất quan trọng với mọi người, đặc biệt là dữ liệu cá nhân hoặc có liên quan đến công việc. Những công cụ hỗ trợ thì có rất nhiều, nhưng sử dụng làm sao có hiệu quả nhất mới thực sự khó khăn. Trên đây là 1 số hướng dẫn cụ thể và cơ bản để mọi người nâng cao khả năng sử dụng và quản lý tài liệu cá nhân trên máy tính sử dụng hệ điều hành Linux (ở đây là Ubuntu). Chúc các bạn thành công!

T.Anh (theo HowToGeek)

9.28.2010

Khởi động Linux bằng EXTLINUX

Nếu đã từng chạy Linux LiveCD (hoặc LiveUSB), hoặc bạn đã khởi động máy tính của mình bằng một đĩa giải cứu, chắc chắn bạn đã sử dụng một phiên bản nào đó của SYSLINUX. SYSLINUX là một bộ bootloader cho Linux, nó giúp bạn có thể khởi động hệ thống từ hệ thống file MS-DOS FAT hoặc tạo đĩa khởi động (theo cách nói cũ); người em họ của nó, ISOLINUX, cũng cho phép khởi động từ CD và các môi trường tương tự như vậy.


SYSLINUX tỏ ra rất hữu dụng cho các cài đặt thời gian đầu, khi bạn thường khởi động từ một máy tính hiện đang chạy Windows, tuy nhiên cho tới gần đây, người dùng đã phải chuyển sang một bootloader khác được kích hoạt sau khi cài đặt vì SYSLINUX không xử lý các hệ thống file ext*. Mặc dù vậy, EXTLINUX, một bổ sung gần đây cho Syslinux Project, có thể xử lý các hệ thống file này (xem bên dưới), cho phép bạn có thêm một tùy chọn khởi động khác bên cạnh GRUB và LILO cho các hệ thống Linux.
Khởi động các đĩa bằng SYSLINUX và ISOLINUX
Việc sử dụng SYSLINUX để tạo đĩa khởi động là một việc hoàn toàn đơn giản: chỉ cần đặt cho nó một tên thiết bị.
syslinux /dev/fd0
Sau đó bạn có thể thiết lập cấu hình bằng cách chỉnh sửa file syslinux.cfg (tìm thấy trong /boot/syslinux/, /syslinux/, và /). Bạn có thể kiểm tra tại đây để tìm hiểu thêm về cú pháp hoàn chỉnh, tuy nhiên một entry cơ bản sẽ có dạng như thể hiện bên dưới:
DEFAULT linux
LABEL linux
SAY Booting Linux kernel via SYSLINUX
KERNEL vmlinuz.img
APPEND ro root=/dev/sda1 initrd=initrd.img
Việc tạo một bootable CD bằng ISOLINUX có đôi chút phức tạp hơn. Đầu tiên bạn cần tạo một thư mục boot/isolinux/ hoặc isolinux/ bên dưới thư mục gốc của ISO image chủ (cây thư mục mà từ đó bạn sẽ burn ISO image).
Copy isolinux.bin, isolinux.cfg (các tùy chọn cấu hình và cú pháp cho file này tương tự như syslinux.cfg), và các kernel cần thiết, file initrd, logo,… vào thư mục này. Sau đó sử dụng lệnh mkisofs (được phân phối với cdrecord) để tạo ISO image:
mkisofs -o isooutimage.iso
-b isolinux/isolinux.bin -c isolinux/boot.cat
-no-emul-boot -boot-load-size 4 -boot-info-table
/tmp/my-iso-tree/
Ở đây /tmp/my-iso-tree/ là root của cây file ISO chủ. Burn ISO image vào CD, khi đó bạn sẽ có khả năng khởi động từ CD.
EXTLINUX làm Linux bootloader
Một phát sinh mới của SYSLINUX được bổ sung thêm gần đây, EXTLINUX, cho phép khởi động từ các hệ thống file Linux ext2/ext3, phát hành 4.00, các hệ thống file Btrfs và ext4. Nó làm việc gần giống như SYSLINUX, chỉ có một ngoại lệ là chạy trên một hệ thống file được mount thay gì trên một thiết bị.
extlinux --install /boot/isolinux
File cấu ình là extlinux.conf và cũng nằm trong cùng thư mục mà EXTLINUX được cài đặt. Cũng như ISOLINUX, các tùy chọn cấu hình và cú pháp cũng tương tự như syslinux.cfg.
Bạn cũng cần đến một bản ghi khởi động chủ (master boot) vì EXTLINUX sẽ tự cài đặt trong phân vùng hệ thống file. Một số gợi ý về việc sử dụng mbr.bin được phát hành với SYSLINUX và dẫn đến đúng thiết bị:
cat mbr.bin > /dev/had
Bạn cần kiểm tra trước khi khởi động phân vùng có chứa EXTLINUX đã được kích hoạt. Cũng có thể thiết lập EXTLINUX trên hệ thống RAID phần mềm.
PXELINUX và netbooting
Cũng có một phát sinh SYSLINUX khác, PXELINUX, đây là thành phần có thể được sử dụng để khởi động từ một máy chủ mạng, sau đó bạn có thể cài đặt hệ thống qua mạng. Đó chính là một cách hữu dụng cho các máy tính cũ không có ổ CD khởi động, hoặc để cài đặt một số lượng lớn các máy tính với cùn một image cài đặt.
SYSLINUX và Syslinux Project có thể đã tạo được những ấn tượng tốt, tuy nhiên rõ ràng rằng nó vẫn đi sau sự phát triển tích cực và theo kịp với những thay đổi trong cả phần cứng và phần mềm. CD cài đặt Ubuntu ngày nay có kèm theo EXTLINUX như một phương pháp thay thế cho GRUB, vì vậy bạn có thể thực hiện thử nghiệm trong thời gian thực hiện cài đặt tới.
Văn Linh-Quantrimang (Theo Linuxplanet)

9.27.2010

Gán thêm bộ lọc ngăn chặn cùng với email gửi đi với alterMIME

Trong bài viết sau, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu với các bạn cách cài đặt và sử dụng alterMIME - 1 công cụ hỗ trợ có tính năng tự động tạo và thêm các bộ lọc ngăn chặn vào email. Ứng dụng này khá giống với bộ lọc Postfix trên Debian Lenny.

Lưu ý sơ bộ

Tại đây, hệ thống thử nghiệm của chúng ta đã được cài đặt Postfix sẵn (xem thêm tại đây).

Cài đặt alterMIME

Các bạn hãy sử dụng câu lệnh sau:

aptitude install altermime

Tiếp theo, chúng ta tạo tài khoản user với thư mục gốc /var/spool/filter và alterMIME sẽ được khởi động cùng với tài khoản đó:

useradd -r -c "Postfix Filters" -d /var/spool/filter filter
mkdir /var/spool/filter
chown filter:filter /var/spool/filter
chmod 750 /var/spool/filter

Sau đó, tiếp tục tạo đoạn mã /etc/postfix/disclaimer để thi hành các lệnh từ alterMIME. Các gói alterMIME từ Debian có đi kèm với đoạn mã mẫu, do vậy chúng ta chỉ cần copy tới thư mục /etc/postfix/disclaimer:

cp /usr/share/doc/altermime/examples/postfix_filter.sh /etc/postfix/disclaimer
chgrp filter /etc/postfix/disclaimer
chmod 750 /etc/postfix/disclaimer

Vấn đề duy nhất còn tồn tại với đoạn mã này là nó không thể phân biệt được email gửi và nhận – chỉ đơn giản là áp dụng quy tắc lọc với tất cả các email. Để thay đổi tính năng này, chúng ta cần can thiệp vào file /etc/postfix/disclaimer – sẽ được đề cập đến ở đoạn dưới.

Tại bước này, chúng ta sẽ tạo tiếp file /etc/postfix/disclaimer_addresses để lưu giữ tất cả các địa chỉ của người gửi (mỗi địa chỉ 1 dòng) để alterMIME gán vào như 1 quy tắc phân loại:

vi /etc/postfix/disclaimer_addresses

falko@example.com
joe@example.org
tom@example.net

Sau đó, mở file /etc/postfix/disclaimer và sửa lại thành như sau (những đoạn đánh dấu bằng chữ Changed nghĩa là đã được thay đổi):

vi /etc/postfix/disclaimer

#!/bin/sh
# Localize these.
INSPECT_DIR=/var/spool/filter
SENDMAIL=/usr/sbin/sendmail

####### Changed From Original Script #######
DISCLAIMER_ADDRESSES=/etc/postfix/disclaimer_addresses
####### Changed From Original Script END #######

# Exit codes from
EX_TEMPFAIL=75
EX_UNAVAILABLE=69

# Clean up when done or when aborting.
trap "rm -f in.$$" 0 1 2 3 15

# Start processing.
cd $INSPECT_DIR || { echo $INSPECT_DIR does not exist; exit
$EX_TEMPFAIL; }

cat >in.$$ || { echo Cannot save mail to file; exit $EX_TEMPFAIL; }

####### Changed From Original Script #######
# obtain From address
from_address=`grep -m 1 "From:" in.$$ | cut -d "<" -f 2 | cut -d ">" -f 1`

if [ `grep -wi ^${from_address}$ ${DISCLAIMER_ADDRESSES}` ]; then
/usr/bin/altermime --input=in.$$ \
--disclaimer=/etc/postfix/disclaimer.txt \
--disclaimer-html=/etc/postfix/disclaimer.txt \
--xheader="X-Copyrighted-Material: Please visit http://www.company.com/privacy.htm" || \
{ echo Message content rejected; exit $EX_UNAVAILABLE; }
fi
####### Changed From Original Script END #######

$SENDMAIL "$@"

exit $?

Sau đó, ta cần file /etc/postfix/disclaimer.txt để chứa dữ liệu liên quan đến nội dung quy tắc:

cp /usr/share/doc/altermime/examples/disclaimer.txt /etc/postfix/disclaimer.txt

Bước cuối cùng, chúng ta cần “thông báo” với Postfix để chương trình sử dụng mã /etc/postfix/disclaimer để gán tất cả các quy tắc lọc với những email được gửi đi. Mở /etc/postfix/master.cf và thêm dòng -o content_filter=dfilt: vào dòng smtp:

vi /etc/postfix/master.cf

#
# Postfix master process configuration file. For details on the format
# of the file, see the master(5) manual page (command: "man 5 master").
#
# Do not forget to execute "postfix reload" after editing this file.
#
# ==========================================================================
# service type private unpriv chroot wakeup maxproc command + args
# (yes) (yes) (yes) (never) (100)
# ==========================================================================
smtp inet n - - - - smtpd
-o content_filter=dfilt:
[...]

Và tại phía cuối file đó, hãy thêm 2 dòng lệnh như sau:

[...]
dfilt unix - n n - - pipe
flags=Rq user=filter argv=/etc/postfix/disclaimer -f ${sender} -- ${recipient}

Khởi động lại Postfix:

/etc/init.d/postfix restart

Và giờ đây, các bộ lọc do bạn đề ra sẽ được áp dụng vào tất cả các email gửi đi từ những địa chỉ lưu trữ trong file /etc/postfix/disclaimer_addresses.

Khi hoàn thành được các bước cơ bản trên nghĩa là bạn đã cài đặt và áp dụng thành công các quy tắc lọc vào email gửi đi. Chúc các bạn thành công!

T.Anh (theo HowToForge)

9.26.2010

Hướng dẫn thiết lập hệ thống lưu trữ độc lập tương tự NFS

Trong bài viết sau, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu với các bạn cách thiết lập hệ thống lưu trữ dữ liệu độc lập trên nền tảng Ubuntu 10.04. Thay vì sử dụng NFS, chúng ta sẽ dùng GlusterFS, hệ thống client được cung cấp khả năng truy cập đến các thiết bị lưu trữ. GlusterFS là tập hợp file hệ thống có thể được nhân rộng tới vài peta-byte. Chương trình có thể lưu trữ dữ liệu trên những các mô hình, thiết bị khác nhau qua giao thức Infiniband RDMA hoặc TCP/IP được kết nối vào 1 hệ thống lớn song song với các tập tin mạng. Những thiết bị lưu trữ này phải tương thích tốt với hệ điều hành server x86_64 như SATA-II RAID và Infiniband HBA.

Lưu ý sơ bộ

Trong bài thử nghiệm này, chúng ta sử dụng 2 hệ thống server và client:
 - server: server1.example.com và địa chỉ IP: 192.168.0.100
 - client: client1.example.com và địa chỉ IP 192.168.0.101

Tất cả các lệnh đều được thực hiện bằng tài khoản gốc, do đó hãy đăng nhập vào root:
sudo su
Cả 2 mô hình này đều có thể áp dụng trên các hostname của hệ thống khác. Nếu không thực hiện được qua DNS, hãy sửa lại file /etc/hosts như sau:
vi /etc/hosts

127.0.0.1 localhost.localdomain localhost
192.168.0.100 server1.example.com server1
192.168.0.101 client1.example.com client1

# The following lines are desirable for IPv6 capable hosts
::1 localhost ip6-localhost ip6-loopback
fe00::0 ip6-localnet
ff00::0 ip6-mcastprefix
ff02::1 ip6-allnodes
ff02::2 ip6-allrouters
Các bạn nên sử dụng địa chỉ IP thay vì hostname, vì sẽ tiện lợi hơn rất nhiều trong những bước thực hiện tiếp theo.

Cài đặt và thiết lập hệ thống Server GlusterFS


Quá trình này sẽ được áp dụng trên server1.example.com. Các gói cài đặt GlusterFS đã có sẵn trong Ubuntu 10.04, do đó hãy sử dụng lệnh sau:
aptitude install glusterfs-server
Cú pháp:
glusterfs --version
sẽ hiển thị phiên bản của GlusterFS vừa cài đặt (ở đây là 3.0.2):
root@server1:~# glusterfs --version
glusterfs 3.0.2 built on Mar 23 2010 00:24:16
Repository revision: v3.0.2
Copyright (c) 2006-2009 Gluster Inc.
GlusterFS comes with ABSOLUTELY NO WARRANTY.
You may redistribute copies of GlusterFS under the terms of the GNU General Public License.
root@server1:~#
Tiếp theo, chúng ta tạo thêm các thư mục sau:
mkdir /data/
mkdir /data/export
mkdir /data/export-ns
Sau đó, tạo file thiết lập /etc/glusterfs/glusterfsd.vol (nhưng trước đó chúng ta nên sao lưu file gốc /etc/glusterfs/glusterfsd.vol) – có chức năng chỉ định thư mục nào sẽ được khởi tạo (/data/export) và client nào được cho phép kết nối (192.168.0.101 = client1.example.com):
cp /etc/glusterfs/glusterfsd.vol /etc/glusterfs/glusterfsd.vol_orig
cat /dev/null > /etc/glusterfs/glusterfsd.vol
vi /etc/glusterfs/glusterfsd.vol

volume posix
type storage/posix
option directory /data/export
end-volume

volume locks
type features/locks
option mandatory-locks on
subvolumes posix
end-volume

volume brick
type performance/io-threads
option thread-count 8
subvolumes locks
end-volume

volume server
type protocol/server
option transport-type tcp
option auth.addr.brick.allow 192.168.0.101 # Edit and add list of allowed clients comma separated IP addrs(names) here
subvolumes brick
end-volume
Lưu ý rằng chúng ta vẫn có thể sử dụng được các ký hiệu đặc biệt với địa chỉ IP (ví dụ 192.168.*) và sau đó phân chia riêng rẽ các địa chỉ IP bằng dấu phẩy (ví dụ 192.168.0.101,192.168.0.102). Sau đó hãy khởi động server GlusterFS:
/etc/init.d/glusterfs-server start
Cài đặt và thiết lập hệ thống Client GlusterFS

Với client1.example.com, chúng ta có thể cài đặt GlusterFS client như sau:
aptitude install glusterfs-client glusterfs-server
Sau đó tạo thư mục:
mkdir /mnt/glusterfs
Và tạo file /etc/glusterfs/glusterfs.vol (cũng như với server, chúng ta nên sao lưu file cấu hình /etc/glusterfs/glusterfs.vol này trước):
cp /etc/glusterfs/glusterfs.vol /etc/glusterfs/glusterfs.vol_orig
cat /dev/null > /etc/glusterfs/glusterfs.vol
vi /etc/glusterfs/glusterfs.vol

volume remote
type protocol/client
option transport-type tcp
option remote-host server1.example.com # can be IP or hostname
option remote-subvolume brick
end-volume

volume writebehind
type performance/write-behind
option window-size 4MB
subvolumes remote
end-volume

volume cache
type performance/io-cache
option cache-size 512MB
subvolumes writebehind
end-volume
Hãy chắc chắn tham số hostname hoặc địa chỉ IP trong dòng option remote-host được khai báo chuẩn xác với hệ thống. Bây giờ chúng ta có thể ghép file hệ thống GlusterFS tới /mnt/glusterfs bằng 1 trong 2 câu lệnh sau:
glusterfs -f /etc/glusterfs/glusterfs.vol /mnt/glusterfs
hoặc
mount -t glusterfs /etc/glusterfs/glusterfs.vol /mnt/glusterfs
Khi sử dụng lệnh mount, các bạn sẽ thấy kết quả trả về tương tự như sau:
root@client1:~# mount
/dev/mapper/server2-root on / type ext4 (rw,errors=remount-ro)
proc on /proc type proc (rw,noexec,nosuid,nodev)
none on /sys type sysfs (rw,noexec,nosuid,nodev)
none on /sys/fs/fuse/connections type fusectl (rw)
none on /sys/kernel/debug type debugfs (rw)
none on /sys/kernel/security type securityfs (rw)
none on /dev type devtmpfs (rw,mode=0755)
none on /dev/pts type devpts (rw,noexec,nosuid,gid=5,mode=0620)
none on /dev/shm type tmpfs (rw,nosuid,nodev)
none on /var/run type tmpfs (rw,nosuid,mode=0755)
none on /var/lock type tmpfs (rw,noexec,nosuid,nodev)
none on /lib/init/rw type tmpfs (rw,nosuid,mode=0755)
none on /var/lib/ureadahead/debugfs type debugfs (rw,relatime)
/dev/sda1 on /boot type ext2 (rw)
/etc/glusterfs/glusterfs.vol on /mnt/glusterfs type fuse.glusterfs (rw,allow_other,default_permissions,max_read=131072)
root@client1:~#
và:
df -h

root@client1:~# df -h
Filesystem Size Used Avail Use% Mounted on
/dev/mapper/server2-root
29G 851M 26G 4% /
none 243M 172K 242M 1% /dev
none 247M 0 247M 0% /dev/shm
none 247M 36K 247M 1% /var/run
none 247M 0 247M 0% /var/lock
none 247M 0 247M 0% /lib/init/rw
none 29G 851M 26G 4% /var/lib/ureadahead/debugfs
/dev/sda1 228M 17M 199M 8% /boot
/etc/glusterfs/glusterfs.vol
18G 848M 16G 5% /mnt/glusterfs
root@client1:~#
Thay vì phải ghép các chia sẻ lần lượt từ GlusterFS trên hệ thống client, các bạn có thể can thiệp vào file /etc/fstab để quá trình này tự động khi client được kích hoạt. Mở file /etc/fstab và thêm dòng mã sau:
vi /etc/fstab

[...]
/etc/glusterfs/glusterfs.vol /mnt/glusterfs glusterfs defaults 0 0
Để kiểm tra lại sau khi chỉnh sửa file /etc/fstab hệ thống có hoạt động bình thường hay không, khởi động lại client:
reboot
dùng lệnh df -h và mount để kiểm tra danh sách hiển thị các liên kết chia sẻ bên trong đó.

Trên đây là 1 số bước cơ bản để cài đặt và thiết lập hệ thống lưu trữ độc lập tương tự NFS với GlusterFS trên Ubuntu 10.04. Chúc các bạn thành công!
T.Anh (theo HowToForge)

9.25.2010

3 cách cơ bản để truy cập thư mục chia sẻ của Windows từ Linux

Đây là 1 trong những vẫn đề thường gặp nhất trong hệ thống sử dụng cả Windows và Linux. Sau đây, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu với các bạn những cách cơ bản và đơn giản nhất để truy cập tới thư mục chia sẻ trên Windows từ Linux.



Sử dụng phím tắt

Tại Linux, bạn có thể sử dụng phím tắt Alt+F2 để mở cửa sổ Run (như Windows + R trong Windows), tại ô địa chỉ bạn chỉ cần khai báo giao thức sử dụng và địa chỉ cụ thể. Ví dụ như smb:// để kết nối tới server chia sẻ samba, ngoài ra còn 1 số giao thức phổ biến khác như ssh, ftp, sftp, http, và https:

Ở ví dụ này là tên server – playground, thư mục chia sẻ là music
Và điền mật khẩu nếu hệ thống có yêu cầu, và khoảng thời gian lưu trữ password này:

Khi kết nối thành công, cửa sổ chia sẻ thư mục sẽ hiển thị như hình sau:


Kết nối từ menu GNOME

Nếu bạn đang sử dụng Ubuntu hoặc các distribution dựa trên GNOME khác, mở menu và chọn Connect to Server:
Tại cửa sổ tiếp theo, bạn chọn giao thức sử dụng từ danh sách Server:
Với server samba/cifs chọn Windows share và điền các thông tin yêu cầu tương ứng (không giống như trên Windows, bạn không cần thêm dấu gạch / để thực hiện lệnh kết nối tại đây):
Hoặc có thể sử dụng luôn chức năng Connect to Server tại đây:
Sử dụng shortcut

1 cách khá đơn giản khác thường được áp dụng là tạo shortcut của những thư mục chia sẻ mà bạn thường xuyên phải sử dụng. Kích chuột phải lên menu cần tạo shorcut và chọn Add to Panel:

Cửa sổ popup hiện ra, các bạn gõ từ khóa connect và chọn thành phần Connect to Server:

Và đây là kết quả:

Trên đây là 1 số cách cơ bản và dễ áp dụng trong hệ thống có sử dụng cả Windows và Linux. Chúc các bạn thành công!

T.Anh - Quantringmang (theo HowToGeek)