Tầm quan trọng của password (mật khẩu)
đối với người dùng internet là điều tất yếu. Tuy nhiên, bạn cần phải
hiểu rõ về các dạng password để vận dụng chúng tốt hơn nhằm bảo vệ tài
khoản và dữ liệu của mình.
Các chương trình đánh cắp password ngày càng tinh vi, công nghệ xử lý và bảo mật password cũng vì thế mà liên tục được cải tiến. Nhân dịp BitDefender vừa giới thiệu công nghệ password mới bằng bản đồ 3D, Quản trị mạng cùng điểm qua một số giải pháp password trực tuyến đang được áp dụng hiện nay.

Mật khẩu là lá chắn an toàn cho dữ liệu của bạn trước những cặp mắt tò mò - (Ảnh: minh họa: Internet)
Mật khẩu truyền thống
Công nghệ bảo mật bằng mật khẩu (password) đã được áp dụng từ những ngày đầu tiên khi máy tính xuất hiện. Năm 1961, viện công nghệ MIT cho ra mắt một trong những hệ thống chia sẻ đầu tiên trên thế giới – CTSS – cùng với hệ thống mật khẩu sơ khai bao gồm lệnh LOGIN, yêu cầu người dùng nhập vào mật khẩu. Sau khi nhập lệnh PASSWORD, người dùng sẽ phải nhập tiếp mật khẩu của mình để được hệ thống xác nhận.
Cũng trong thập niên 1960, công nghệ bảo mật bằng mật khẩu dần được hoàn thiện thành dạng password được sử dụng phổ biến nhất cho đến ngày nay: alpha – numeric password, tức mật khẩu dưới dạng một chuỗi các chữ cái và chữ số. Bất kỳ chuỗi ký tự nào cũng có thể trở thành mật khẩu, nhưng người dùng được khuyến cáo nên đặt mật khẩu của mình phức tạp đủ để không bị người khác đoán ra. Mật khẩu càng phức tạp, khó đoán thì độ bảo mật càng cao. Tuy nhiên, độ phức tạp của mật khẩu cũng tỉ lệ nghịch với việc người dùng có thể nhớ chúng một cách dễ dàng.
Ngoài việc khó có thể tự đặt ra một mật khẩu đủ khó để không bị người khác đoán ra nhưng cũng phải đủ dễ để chính bản thân người dùng có thể ghi nhớ, alpha – numberic password còn phải đối mặt với các cuộc tấn công chiếm password và các chương trình đánh cắp mật khẩu.
Dạng tấn công phổ biến nhất là tấn công tra cứu từ điển (dictionary attack). Phương thức này hiểu đơn giản là kiểu đoán mật khẩu với các cụm từ có nghĩa thường được nhiều người chọn dùng làm mật khẩu (thay vì các chuỗi ký tự ngẫu nhiên như được khuyến cáo), kẻ tấn công sẽ dùng chương trình tự động thử tất cả các từ có nghĩa trong từ điển để bẻ khóa password.
Ngoài ra còn có hàng trăm chương trình keylogger được sử dụng để ghi nhận quá trình nhập password của nạn nhân rồi tự động gửi thông tin về cho kẻ có ý muốn đánh cắp password đó. Hoặc kiểu tra cứu từng ký tự trong mật khẩu (brute-force attack), chương trình sẽ tự động dò tìm từng ký tự trong chuỗi mật khẩu. Tuy dạng brute-force attack có tỉ lệ phá mật khẩu cao nhưng nếu người dùng sử dụng các loại mật khẩu bao gồm nhiều ký tự chữ và số xen lẫn ký tự đặc biệt thì có thể phải mất nhiều năm mới có thể tìm ra chuỗi mật khẩu hoàn thiện (Ví dụ: n$W0k1J^57$h@k3R mật khẩu được cho là có tính bảo mật cao nhưng lại khó nhớ).
Trước sự đe dọa của các chương trình đánh cắp mật khẩu, việc phát minh ra nhiều dạng password mới thay thế cho kiểu truyền thống là hết sức cần thiết, và mật khẩu hình ảnh cùng với mật khẩu một lần là 2 trong số những số ấy.
Mật khẩu dạng hình ảnh (Graphical password)
Về cơ bản, con người có xu hướng ghi nhớ các thông tin dưới dạng hình ảnh dễ dàng hơn thông tin dưới các dạng khác. Chúng ta có thể gặp khó khăn khi phải nhớ một chuỗi 50 ký tự, nhưng lại dễ dàng nhớ gương mặt của những người ta đã gặp, những nơi ta đã đến và những thứ ta đã thấy. Dựa vào đặc điểm này, người ta đã tạo ra mật khẩu hình ảnh (graphical password).
Để đăng nhập vào một website hay hệ thống được bảo mật bằng graphical password, thay vì phải nhập một chuỗi ký tự như ở alpha – numberic password, người dùng sẽ được yêu cầu ấn chuột vào 4 điểm trên bức ảnh mà hệ thống đưa ra. 4 điểm này chính là mật khẩu mà họ đã xác định và ghi nhớ trong quá trình tạo mật khẩu. Dĩ nhiên người dùng cũng có thể chọn số lượng điểm bí mật nhiều hơn 4 để tăng độ bảo mật.

Click vào bốn điểm chấm đỏ là cách thức nhập password qua hình ảnh.
Ở một hình thức khác, người dùng sẽ chọn và ghi nhớ 4 hoặc nhiều hơn
các biểu tượng trong quá trình tạo password và chọn lại chúng trong hàng
loạt biểu tượng được sắp xếp ngẫu nhiên và thay đổi trong quá trình
đăng nhập.

Chọn password theo hình ảnh.
Trường Đại học Malaya (Malaysia) còn cung cấp một thuật toán khác:
khi đăng ký tài khoản, người dùng sẽ tạo password bằng cách chọn các
biểu tượng do máy chủ cung cấp. Khi đăng nhập, những biểu tượng này sẽ
được thu nhỏ và xoay theo các chiều khác nhau, người dùng lúc này sẽ
phải nhận ra biểu tượng mà mình đã chọn, sau đó nhập vào ô password
những ký tự hiện bên dưới biểu tượng đó. Giải pháp này khá mất thời gian
nên vẫn còn đang trong giai đoạn thăm dò ý kiến người dùng.
Điểm mạnh của graphical password là dễ nhớ mà mức độ bảo mật lại cao vì hacker không thể sự dụng cách tấn công từ điển để đánh cắp mật khẩu và các chương trình keylogger cũng
trở nên vô dụng vì các biểu tượng được xáo trộn ngẫu nhiên mỗi lần đăng
nhập. Tuy nhiên bạn cũng có thể bị lộ password nếu người khác quan sát
và ghi nhớ các biểu tượng cũng như điểm ảnh bạn chọn mỗi lần đăng nhập.
Mật khẩu dùng một lần duy nhất (One time password)
Nguyên lý hoạt động của mật khẩu một lần (One time password - OTP) như sau: sau khi đã đăng ký dịch vụ, mỗi lần muốn đăng nhập, người dùng sẽ được cung cấp một mật khẩu tạo ra bởi đầu đọc và thẻ thông minh hay thiết bị tạo mật khẩu cầm tay (token) nhờ vào kết nối internet với máy chủ của dịch vụ cung cấp OTP hoặc cũng có thể thông qua thẻ OTP in sẵn hay điện thoại di động mà không cần đến kết nối internet.
Mật khẩu này sẽ tự mất hiệu lực sau khi người dùng đăng xuất (log out) ra khỏi hệ thống. Như vậy, nếu bạn bị lộ mật khẩu thì người có được mật khẩu đó cũng không thể dùng được, và do đó giải pháp OTP có tính bảo mật rất cao.
Quá trình tạo mật khẩu mới sẽ lặp lại mỗi lần người dùng đăng nhập vào hệ thống được bảo mật bằng OTP. Công nghệ OTP được dùng nhiều trong chứng thực trực tuyến (thương mại trực tuyến). Hiện nay người dùng các thiết bị cầm tay như iPhone, Blackberry cũng có thể tự cài đặt cơ chế bảo mật OTP bằng các chương trình như VeriSign, RSA SecureID hay SafeNet MobilePASS.
Ngày càng có nhiều giải pháp mới giúp tăng cường tính bảo mật của
password. Nhưng dù với bất cứ giải pháp nào thì người dùng cũng nên tự
bảo vệ mình bằng cách lựa chọn và ghi nhớ mật khẩu của mình thật hiệu
quả, cũng như tăng cường các biện pháp phòng vệ trước sự đe dọa của
hacker và các chương trình keylogger.
Các chương trình đánh cắp password ngày càng tinh vi, công nghệ xử lý và bảo mật password cũng vì thế mà liên tục được cải tiến. Nhân dịp BitDefender vừa giới thiệu công nghệ password mới bằng bản đồ 3D, Quản trị mạng cùng điểm qua một số giải pháp password trực tuyến đang được áp dụng hiện nay.
Mật khẩu là lá chắn an toàn cho dữ liệu của bạn trước những cặp mắt tò mò - (Ảnh: minh họa: Internet)
Công nghệ bảo mật bằng mật khẩu (password) đã được áp dụng từ những ngày đầu tiên khi máy tính xuất hiện. Năm 1961, viện công nghệ MIT cho ra mắt một trong những hệ thống chia sẻ đầu tiên trên thế giới – CTSS – cùng với hệ thống mật khẩu sơ khai bao gồm lệnh LOGIN, yêu cầu người dùng nhập vào mật khẩu. Sau khi nhập lệnh PASSWORD, người dùng sẽ phải nhập tiếp mật khẩu của mình để được hệ thống xác nhận.
Cũng trong thập niên 1960, công nghệ bảo mật bằng mật khẩu dần được hoàn thiện thành dạng password được sử dụng phổ biến nhất cho đến ngày nay: alpha – numeric password, tức mật khẩu dưới dạng một chuỗi các chữ cái và chữ số. Bất kỳ chuỗi ký tự nào cũng có thể trở thành mật khẩu, nhưng người dùng được khuyến cáo nên đặt mật khẩu của mình phức tạp đủ để không bị người khác đoán ra. Mật khẩu càng phức tạp, khó đoán thì độ bảo mật càng cao. Tuy nhiên, độ phức tạp của mật khẩu cũng tỉ lệ nghịch với việc người dùng có thể nhớ chúng một cách dễ dàng.
Ngoài việc khó có thể tự đặt ra một mật khẩu đủ khó để không bị người khác đoán ra nhưng cũng phải đủ dễ để chính bản thân người dùng có thể ghi nhớ, alpha – numberic password còn phải đối mặt với các cuộc tấn công chiếm password và các chương trình đánh cắp mật khẩu.
Dạng tấn công phổ biến nhất là tấn công tra cứu từ điển (dictionary attack). Phương thức này hiểu đơn giản là kiểu đoán mật khẩu với các cụm từ có nghĩa thường được nhiều người chọn dùng làm mật khẩu (thay vì các chuỗi ký tự ngẫu nhiên như được khuyến cáo), kẻ tấn công sẽ dùng chương trình tự động thử tất cả các từ có nghĩa trong từ điển để bẻ khóa password.
Ngoài ra còn có hàng trăm chương trình keylogger được sử dụng để ghi nhận quá trình nhập password của nạn nhân rồi tự động gửi thông tin về cho kẻ có ý muốn đánh cắp password đó. Hoặc kiểu tra cứu từng ký tự trong mật khẩu (brute-force attack), chương trình sẽ tự động dò tìm từng ký tự trong chuỗi mật khẩu. Tuy dạng brute-force attack có tỉ lệ phá mật khẩu cao nhưng nếu người dùng sử dụng các loại mật khẩu bao gồm nhiều ký tự chữ và số xen lẫn ký tự đặc biệt thì có thể phải mất nhiều năm mới có thể tìm ra chuỗi mật khẩu hoàn thiện (Ví dụ: n$W0k1J^57$h@k3R mật khẩu được cho là có tính bảo mật cao nhưng lại khó nhớ).
Trước sự đe dọa của các chương trình đánh cắp mật khẩu, việc phát minh ra nhiều dạng password mới thay thế cho kiểu truyền thống là hết sức cần thiết, và mật khẩu hình ảnh cùng với mật khẩu một lần là 2 trong số những số ấy.
Mật khẩu dạng hình ảnh (Graphical password)
Về cơ bản, con người có xu hướng ghi nhớ các thông tin dưới dạng hình ảnh dễ dàng hơn thông tin dưới các dạng khác. Chúng ta có thể gặp khó khăn khi phải nhớ một chuỗi 50 ký tự, nhưng lại dễ dàng nhớ gương mặt của những người ta đã gặp, những nơi ta đã đến và những thứ ta đã thấy. Dựa vào đặc điểm này, người ta đã tạo ra mật khẩu hình ảnh (graphical password).
Để đăng nhập vào một website hay hệ thống được bảo mật bằng graphical password, thay vì phải nhập một chuỗi ký tự như ở alpha – numberic password, người dùng sẽ được yêu cầu ấn chuột vào 4 điểm trên bức ảnh mà hệ thống đưa ra. 4 điểm này chính là mật khẩu mà họ đã xác định và ghi nhớ trong quá trình tạo mật khẩu. Dĩ nhiên người dùng cũng có thể chọn số lượng điểm bí mật nhiều hơn 4 để tăng độ bảo mật.
Click vào bốn điểm chấm đỏ là cách thức nhập password qua hình ảnh.
Chọn password theo hình ảnh.
Mật khẩu dùng một lần duy nhất (One time password)
Nguyên lý hoạt động của mật khẩu một lần (One time password - OTP) như sau: sau khi đã đăng ký dịch vụ, mỗi lần muốn đăng nhập, người dùng sẽ được cung cấp một mật khẩu tạo ra bởi đầu đọc và thẻ thông minh hay thiết bị tạo mật khẩu cầm tay (token) nhờ vào kết nối internet với máy chủ của dịch vụ cung cấp OTP hoặc cũng có thể thông qua thẻ OTP in sẵn hay điện thoại di động mà không cần đến kết nối internet.
Mật khẩu này sẽ tự mất hiệu lực sau khi người dùng đăng xuất (log out) ra khỏi hệ thống. Như vậy, nếu bạn bị lộ mật khẩu thì người có được mật khẩu đó cũng không thể dùng được, và do đó giải pháp OTP có tính bảo mật rất cao.
Quá trình tạo mật khẩu mới sẽ lặp lại mỗi lần người dùng đăng nhập vào hệ thống được bảo mật bằng OTP. Công nghệ OTP được dùng nhiều trong chứng thực trực tuyến (thương mại trực tuyến). Hiện nay người dùng các thiết bị cầm tay như iPhone, Blackberry cũng có thể tự cài đặt cơ chế bảo mật OTP bằng các chương trình như VeriSign, RSA SecureID hay SafeNet MobilePASS.
| Theo Tuổi trẻ |





Được xếp vào hàng cấp độ 3, chúng có ở khắp mọi nơi, ở hầu hết các website có sử dụng Flash (hầu hết tất cả các website hiện nay đều có Flash), và do vậy những website này dễ dàng trở thành mục tiêu của tin tặc. Nhưng mối nguy hiểm mà có thể rất ít người biết đến là khả năng kết hợp với cookies của Flash. Các cookies này là những mẩu dữ liệu rất nhỏ mà kẻ tạo ra chúng dùng để thu thập mọi thông tin liên quan khi người dùng tương tác với file Flash trên website. Và cũng giống như cookies thông thường, Flash cookies có thể theo dấu vết những website mà bạn ghé thăm. Khi tiến hành xóa bỏ toàn bộ cookies của trình duyệt, Flash cookies không hề mất đi mà vẫn còn tồn tại.
Có thể dễ dàng nhận ra từ Twitter, những mối nguy hiểm bắt đầu từ đây được xếp hạng thứ 4 – rất nguy hiểm. Tin tặc đã bắt đầu “ưa thích” Twitter vì quá phụ thuộc vào việc rút ngắn các URL – thu gọn các đường dẫn “loằng ngoằng” từ hàng chục đến hàng trăm ký tự về 1 dạng đơn giản, dễ nhìn hơn với người sử dụng. Và cũng rất đơn giản để tin tặc dễ dàng chèn vào đây những đường dẫn giả mạo, từ đó dẫn người dùng đến với các chương trình Trojan ngụy trang khác.
Quá phổ biến và thông dụng, mô hình mạng chia sẻ ngang hàng – torrent là nơi cung cấp vô vàn các tài nguyên công nghệ thông tin quý giá, và cũng là nơi phát tán các loại mã độc nguy hiểm nhất. Không phải vô lý mà chúng tôi xếp hạng mục này vào mức cao nhất – đặc biệt nguy hiểm. Ben Edelman - chuyên gia bảo mật, đã tiến hành 1 cuộc khảo sát và nghiên cứu nho nhỏ tại trường đại học kinh doanh Harvard, với kết quả là họ thường xuyên sử dụng website cung cấp torrent vì chúng hoàn toàn miễn phí (bằng cách so sánh đơn giản, rất nhiều trang web khiêu dâm dựa vào độ “bảo mật” khi người truy cập nghĩ rằng đây là nơi rất an toàn – thực tế thì hoàn toàn ngược lại), hơn nữa họ không hề xây dựng 1 mô hình phòng bị bảo mật nào cho hệ thống mạng: Các khách hàng sử dụng dịch vụ torrent, họ thực sự không muốn trả phí, so với lợi ích mà chúng mang lại – ông còn cho biết thêm.
Nếu muốn sử dụng chức năng tìm kiếm này, chắc chắn người dùng phải có thiết bị hỗ trợ – điển hình là smartphone. Tính năng này khá an toàn, nhưng chúng ta không thể không đề phòng đến những trường hợp xấu nhất có thể. Thị trường smartphone có thể nói vẫn chưa thực sự ổn định, và mối quan tâm ở đây là việc người dùng sử dụng hoặc lạm dụng chức năng này. Nhiều nhà phát triển cung cấp rất nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau cho dịch vụ này, song song với đó là không ít dịch vụ giả mạo. Ví dụ như 1 trò chơi được liệt kê trong danh sách của Android Market lại lạ 1 phần mềm gián điệp núp bóng dưới game Snake. 



