About The Author

Sharing Tutorials on Using Computers, Basic, Simple and Easy Tips on Using Internet, Tricks and Techniques That I've Learnt Thus Far.

Email subscription

Pages

Showing posts with label vista. Show all posts
Showing posts with label vista. Show all posts

11.07.2010

10 công cụ dòng lệnh được tích hợp sẵn trong Windows


Với nhiều người dùng Windows, Command Prompt là một công cụ rất khó sử dụng và không cần thiết. Nhưng với một số người, Command Prompt là một công cụ mạnh, hữu dụng hơn rất nhiều so với các công cụ đồ họa khác của Windows.

Nếu là một quản trị viên hệ thống chắc hẳn bạn sẽ thường xuyên sử dụng Command Prompt bởi vì sử dụng công cụ này bạn có thể truy cập vào một máy tính từ xa và thực hiện nhiều tác vụ một cách nhanh chóng.

Dưới đây là 10 công cụ dòng lệnh được tích hợp sẵn trên Windows XP, Windows Vista và một số phiên bản Windows Server khác thường được sử dụng:

1. Systeminfo

Nếu cần hiển thị thông tin cấu hình hệ thống cho một máy tính cục bộ hay từ xa (bao gồm các cấp gói dịch vụ) thì systeminfo chính là công cụ mà bạn cần sử dụng. Ngoài ra công cụ này còn được sử dụng để kết nối vào một hệ thống khác. Dữ liệu kết xuất của lệnh này sẽ hiển thị mọi thông tin của hệ thống, gồm tên máy chủ, loại hệ điều hành, phiên bản, ID sản phẩm, ngày cài đặt, thời gian khởi động và thông tin phần cứng (vi xử lý và bộ nhớ). Cần chú ý rằng những hot fix được cài đặt có thể giúp bạn khá nhiều trong quá trình gỡ rối. Công cụ này có thể được sử dụng để kết nối tới một máy khác từ xa bằng cách sử dụng cú pháp lệnh: SYSTEMINFO/S (tên hệ thống)/U (tên người dùng).

2. Ipconfig

Đây là một công cụ thường được sử dụng để kiểm tra và khắc phục các sự cố liên quan tới TCP/IP. Nó có khả năng tạo hay làm mới một địa chỉ IP của Adapter, hiển thị và xóa bộ nhớ đệm DNS, đăng ký lại tên hệ thống trong DNS. Trong Windows Vista và một số phiên bản Windows Server, ipconfig còn hỗ trợ cho IPv6.

Một số mẫu lệnh ipconfig thường dùng:

Ipconfig/all: Xem mọi thông tin TCP/IP.
Ipconfig/displaydns: Xem bộ nhớ đệm của DNS cục bộ.
Ipconfig/flushdns: Xóa toàn bộ dữ liệu trong bộ nhớ DNS cục bộ.
3. Tasklist và taskkill

Nếu thường sử dụng trình quản lý tác vụ của Windows (Windows Task Manager), thì bạn mới thấy tasklist rất dễ sử dụng. Công cụ này hiển thị danh sách các tiến trình đang thực thi, gồm Image Name, Process ID (PID) và dung lượng bộ nhớ sử dụng trên máy cục bộ hay từ xa. Sử dụng khóa chuyển đổi /V sẽ hiển thị nhiều thông tin chi tiết hơn, bao gồm: CPU Time, Username, và các Module. Tasklist gồm có một tùy chọn lọc hiển thị một nhóm tác vụ dựa trên các tiêu chí nhất định.

Một tiến trình riêng lẻ hay nhiều tiến trình có thể bị đóng bằng cách sử dụng PID (/PID) hay Image Name (/IM) với cú pháp lệnh như sau:
TASKKILL /IM notepad.exe
TASKKILL /PID 1230 /PID 1241 /PID 1253 /T
Cả tasklist và taskkill có thể kết nối vào hệ thống từ xa bằng cách sử dụng khóa chuyển đổi /S (tên hệ thống) và /U (tên người dùng).

4. Netstat

Netstat là một công cụ thường được sử dụng để kết nối mạng. Dữ liệu kết xuất cung cấp thông tin của mọi kết nối và các cổng listening port, gồm các ứng dụng được sử dụng trong quá trình kết nối. Ngoài ra, trong dữ liệu kết xuất trên bạn có thể xem các số liệu thống kê Ethernet, và thực hiện kết nối những địa chỉ IP chủ tới một tên miền chuẩn. Bạn có thể sử dụng netstat với khóa chuyển đổi -a để hiển thị mọi thông tin kết nối, khóa chuyển đổi -n để sắp xếp theo dạng số và khóa chuyển đổi -b để hiển thị tên ứng dụng đang chạy.

5. Type

Đây là một công cụ ít được những người không thường xuyên làm việc với Command Prompt biết đến. Với nhiều quản trị viên, lệnh type là công cụ hoàn hảo để xem các file văn bản, nhưng có lẽ không nhiều người biết đến khả năng đọc đồng thời nhiều file của công cụ này. Ví dụ, bạn có thể xem nhiều file cùng lúc bằng lệnh type với cú pháp như sau:
type firstfile.txt secondfile.txt thirdfile.txt
6. Net command

Mặc dù công cụ này được biết đến nhiều hơn với vai trò là một lệnh, nhưng net command gần giống với công cụ drill, nó được sử dụng để cập nhật, sửa lỗi hay kiểm tra thông tin và các cài đặt cho mạng.

Nó thường được sử dụng để kiểm tra (các dịch vụ đang chạy), tắt và khởi chạy dịch vụ:
net stop server
net start server
net start (hiển thị các dịch vụ đang chạy)
Và để kết nối (ánh xạ) và ngắt kết nối với những ổ đĩa được chia sẻ trên mạng:
net use m: \\myserver\sharename
net use m: \\myserver\sharename /delete
Một số lệnh khác thường được sử dụng cùng với net command gồm: accounts (quản lý tài khoản người dùng), net print (quản lý tác vụ in) và net share (quản lý chia sẻ).

Dưới đây là mọi tùy chọn có thể được sử dụng cùng với net command:

[ ACCOUNTS | COMPUTER | CONFIG | CONTINUE | FILE | GROUP | HELP |HELPMSG | LOCALGROUP | PAUSE | PRINT | SESSION | SHARE | START |STATISTICS | STOP | TIME | USE | USER | VIEW ]

Để hiển thị cú pháp lệnh đầy đủ cho mỗi lệnh, bạn chỉ cần nhập net help sau lệnh đang sử dụng.

7. Nslookup

Với Internet, DNS (dịch vụ tên miền) rất quan trọng trong việc cho phép người dùng nhập tên trang web để truy cập thay vì phải nhập địa chỉ IP của trang web đó. Nhưng khi có một số vấn đề phát sinh thì nslookup có thể là một công cụ rất hữu dụng để kiểm tra và khắc phục sự cố cho máy chủ DNS.

Nslookup có thể được chạy trong hai chế độ interactive (tương tác) và noninteractive (không tương tác). Chế độ noninteractive rất hữu dụng khi cần trả về một phần dữ liệu nào đó.

Bạn không nên chú ý tới kết quả trợ giúp vì nslookup rất dễ sử dụng. Một vài tùy chọn thường được sử dụng để khắc phục sự cố trong chế độ interactive bao gồm:
set ds: Hiển thị chi tiết lỗi ở cửa sổ giao tiếp phụ khi làm việc với địa chỉ IP hay máy chủ.
set domain: Xác định tên miền mặc định để sử dụng khi giải quyết sự cố, vì vậy bạn sẽ không cần phải nhập tên miền đầy đủ trong quá trình thực hiện.
set type: Đặt loại bản ghi truy vấn sẽ được trả về, như A, MX, NS.
server NAME: Cho phép bạn hướng nslookup sử dụng các máy chủ DNS ngoài những máy được cấu hình trên PC.
Để thoát khỏi chế độ interactive, nhập lệnh exit.

8. Ping và tracert

Hai công cụ này thường được sử dụng để kết nối vào hệ thống khác. Ping sẽ kiểm tra xem có thể truy cập vào một máy chủ cụ thể qua mạng IP hay không, trong khi tracert (traceroute) được sử dụng để xác định hướng truyền dữ liệu qua mạng IP.

Để ping một hệ thống bạn chỉ cần nhập lệnh ping [địa chỉ IP hệ thống], hoặc có thể ping một website nào đó, chẳng hạn ping www.google.com. Theo mặc định ping sẽ gửi ba yêu cầu ICMP tới máy chủ và nhận thông tin phản hồi. Ping cũng gồm nhiều khóa chuyển đổi để kiểm soát số lượng phản hồi yêu cầu gửi (-n), và để xử lý địa chỉ IP cho tên máy chủ (-a).

Để sử dụng tracert, trong Command Prompt nhập tracert www.google.com. Bạn có thể buộc tracert không xử lý địa chỉ cho tên máy chủ bằng cách sử dụng khóa chuyển đổi –d, hay đặt thời gian chờ mong muốn (tính theo mili giây) cho mỗi lần trả lời bằng khóa chuyển đổi –w.

9. Gpresult

Công cụ này phần lớn được sử dụng trong những môi trường áp dụng các chính sách nhóm. Gpresult (Group Policy Results) xác nhận hiệu lực cho mọi cài đặt chính sách với những máy tính hay người dùng cụ thể. Lệnh này rất dễ sử dụng, chỉ cần nhập gpresult vào Command Prompt. Ngoài ra lệnh này cũng có thể sử dụng kết hợp với khóa chuyển đổi /S/U để kết nối tới các máy tính từ xa.

10. Netsh


Lệnh này thường được sử dụng để cấu hình và kiểm soát máy tính từ Command Prompt. Nó có thể thực hiện các tác vụ sau:
  • Cấu hình giao diện
  • Cấu hình các giao thức hướng
  • Cấu hình bộ lọc
  • Cấu hình hướng
  • Cấu hình thao tác truy cập từ xa cho những router truy cập từ xa nền tảng Windows đang sử dụng dịch vụ Routing and Remote Access Server Service (RRAS)
  • Hiển thị cấu hình của router đang sử dụng trên một máy tính bất kì
Dưới đây là một số thao tác bạn có thể thực hiện với netsh:
  • Kích hoạt hoặc hủy bỏ Windows Firewall:
netsh firewall set opmode disable

netsh firewall set opmode disable
  • Kích hoạt hay hủy bỏ ICMP Echo Request (cho lệnh ping) trong Windows Firewall:
netsh firewall set icmpsetting 8 enable

netsh firewall set icmpsetting 8 disable
  • Cấu hình NIC tự động nhận một địa chỉ IP từ máy chủ DHCP:
netsh interface ip set address “Local Area Connection” dhcp
(Trong các lệnh trên, nếu NIC được đặt một tên khác, bạn hãy dùng lệnh netsh interface ip để hiển thị cấu hình và đổi tên tại Local Area Connection).
Xian (Theo PCTipsBox)

Restore phiên bản Windows trước từ Windows 7


Bài viết này sẽ hướng dẫn phương pháp khôi phục thủ công bản cài đặt hệ điều hành Windows trước đó để thay thể cho phiên bản hệ điều hành Windows 7 đang sử dụng bằng cách sử dụng folder Windows.old.

Để thực hiện theo phương pháp này bạn sẽ cần phải sử dụng đến Command Prompt và phải sử dụng một số lệnh để đổi tên và di chuyển các folder giữa những phiên bản hệ điều hành Windows khác nhau.

Khôi phục hệ thống tới phiên bản Windows trước đó sau khi cài đặt Windows 7

Bước 1: Xác định folder Windows.old có tồn tại trên hệ thống và kiểm tra vùng trống trên đĩa cứng Windows

  • Vào Start chọn Computer.
     
  • Trong menu View click chọn Details.
     
  • Trong cột Free Space kiểm tra vùng trống hiện có trên Local Disk (C:) trong vùng Hard Disk Driver.
     
  • Trong vùng Hard Disk Drives, click đúp vào Local Disk (C:) sau đó kiểm tra xem folder Windows.old có tồn tại hay không.

    Quan trọng: Nếu folder Windows.old không tồn tại trên hệ thống, bạn không thể thực hiện theo những bước trong bài viết này để khôi phục hệ thống về phiên bản Windows trước đó. Thay vào đó bạn sẽ phải backup và restore hay di chuyển file tới hệ điều hành trước.
     
  • Phải chuột lên folder Windows.old (đã tồn tại).
     
  • Sau đó Windows 7 sẽ thực hiện kiểm tra kích thước của folder này.
     
  • Xác định xem kích thước của folder Windows.old có nhỏ hơn vùng trống hiện có của Local Disk (C:) hay không.
Lưu ý: Nếu kích thước của folder Windows.old lớn hơn gấp hai lần vùng trống hiện có thì bạn sẽ không thể thực hiện quá trình restore.

Bước 2: Khởi chạy môi trường Windows Recovery
  • Đưa đĩa cài đặt Windows 7 vào ổ DVD rồi khởi động lại máy tính.
     
  • Nhấn một phím bất kỳ khi bạn được thông báo để khởi động lại từ đĩa.
     
  • Trong cửa sổ Install Windows, click chọn Repair your computer.
     
  • Trong cửa sổ System Recovery Options click vào phiên bản hệ điều hành Windows 7 muốn sửa rồi click Next.
     
  • Trong cửa sổ System Recovery Options click vào Command Prompt.
     
  • Sau đó cửa sổ Command Prompt sẽ hiện ra cùng với dấu đợi lệnh. Cửa sổ Command Prompt là nơi bạn sẽ nhập những lệnh sẽ được miêu tả trong những bước tiếp theo.
Bước 3: Đổi tên những folder của Windows 7

Lưu ý: Khi nhập một hay nhiều lệnh vào cửa sổ Command Prompt dưới đây và nhấn Enter có thể bạn sẽ nhận được thông báo The system cannot find the file specified (Hệ thống không thể tìm thấy file được chỉ định).

Nếu thấy thông báo này, bạn hãy nhập lệnh tiếp theo.

Danh sách lệnh cần nhập vào Command Prompt:
  • Nhập c: rồi nhấn Enter.
     
  • Nhập lệnh ren Windows Windows.7 rồi nhấn Enter.
     
  • Nhập lệnh ren "Program Files" "Program Files.7" rồi nhấn Enter.
     
  • Nhập lệnh ren "Users" "Users.7" rồi nhấn Enter.
     
  • Sau cùng nhập lệnh ren "Documents and Settings" "Documents and Settings.7" rồi nhấn Enter.

Bước 4: Copy hay di chuyển nội dung của folder Windows.old

Lưu ý: Trong bước này, khi nhập một hay nhiều lệnh dưới đây vào cửa sổ Command Prompt và nhấn Enter có thể bạn cũng sẽ nhận được thông báo The system cannot find the file specified (Hệ thống không thể tìm thấy file được chỉ định).

Nếu thấy thông báo này, bạn hãy nhập lệnh tiếp theo.

Hãy nhập những lệnh sau vào Command Prompt:

  • Nhập lệnh move /y c:\windows.old\windows c:\ rồi nhấn Enter.
     
  • Nhập lệnh move /y "c:\windows.old\program files" c:\ rồi nhấn Enter.
     
  • Nhập lệnh move /y c:\windows.old\users c:\ rồi nhấn Enter.
     
  • Nhập lệnh move /y “c:\windows.old\documents and settings” c:\ rồi nhấn Enter.
Bước 5: Khôi phục Boot Sector cho phiên bản Windows được cài đặt trước đó

Lựa chọn một trong số lệnh sau (phù hợp với tính huống của bạn) rồi nhập vào Command Prompt.

Lưu ý: Trong những lệnh sắp liệt kê dưới đây thì D: đại diện cho ổ DVD. Nếu ổ DVD trên hệ thống của bạn là F: thì hãy sử dụng nhãn này.

Nếu phiên bản Windows được cài đặt trước đó là Windows Server 2003, Windows XP, hay Microsoft Windows 2000, bạn hãy nhập lệnh sau vào Command Prompt rồi nhấn Enter:
D:\boot\bootsect /nt52 c:
Nếu phiên bản Windows được cài đặt trước đó là Windows Vista thì bạn hãy sử dụng lệnh sau:
D:\boot\bootsect /nt60 c:
Bước 6: Khôi phục file Boot.ini cho phiên bản Windows được cài đặt trước đó (gồm Windows XP và Windows 2000)

Lưu ý: Bạn chỉ phải thực hiện bước này nếu phiên bản hệ điều hành Windows được cài đặt trên hệ thống trước đó là Windows XP hay Windows 2000.

Bạn hãy chạy những lệnh sau trong Command Prompt:
  • Nhập c: rồi nhấn Enter.
  • Nhập lệnh attrib boot.ini.saved -s -h –r rồi nhấn Enter.
     
  • Nhập lệnh ren"boot.ini.saved""boot.ini" rồi nhấn Enter.
     
  • Nhập lệnh attrib boot.ini +s +h +r rồi nhấn Enter.
Bước 7: Đóng cửa sổ Command Prompt sau đó khởi động lại hệ thống
  • Trên cửa sổ Command Prompt nhập lệnh exit rồi nhấn Enter.
     
  • Click Restart để khởi động lại hệ thống.
Phương pháp này có thể được áp dụng để khôi phục hệ thống trở về các phiên bản Windows được cài đặt trước đó khi đang sử dụng phiên bản Windows 7 Enterprise, Windows 7 Home Basic, Windows 7 Home Premium, Windows 7 Professional, Windows 7 Starter, Windows 7 Ultimate.
Xian (Theo Microsoft)

Ẩn tên User khi máy tính bị khóa trong Windows Vista/2008

Bạn tự hỏi làm thế nào để ẩn đi tên của người dùng khi phiên làm việc đã bị log out ra khỏi Windows? Thực tế việc ẩn đi tên người dùng cũng cần thiết trong một môi trường làm việc cần sự bảo mật, khi đó máy tính được bảo vệ tốt hơn bởi bây giờ ngoài việc “mò” được mật khẩu vào máy, kẻ xấu còn phải tìm ra tên tài khoản user phù hợp nữa.

Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn loại bỏ việc hiển thị tên User trên màn hình ngoài của Windows Vista và 2008.

Lưu ý: Tài liệu này sẽ hướng dẫn bạn chỉnh sửa registry của Windows. Do đó nếu có bất kỳ vấn đề gì trong việc chỉnh sửa registry đều khiến Windows của bạn có thể gặp lỗi. Hãy đảm bảo là bạn đã backup lại registry trước khi thực hiện những thay đổi theo hướng dẫn trong bài.

1. Vào trình chỉnh sửa Registry của máy tính bằng cách vào Start và nhập regedit vào ô tìm kiếm

2. Tìm đến khóa sau:
HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\Windows\
CurrentVersion\Policies\System
3. Tìm đến khóa DontDisplayLockedUserId, nếu chưa có khóa này bạn vào menu Edit chọn New > DWORD Value và sau đó nhập vào giá trị registry sau:

Name: DontDisplayLockedUserId
Data: 1, 2 hoặc 3
Base: Decimal
Trong đó:
  • 1: Hiển thị tên và ID người dùng đã được khóa
  • 2: Chỉ hiện thị tên người dùng đã khóa
  • 3: Không hiển thị thông tin người dùng đã khóa
4. Thoát khỏi trình chỉnh sửa Registry

Lưu ý: Để ngăn chặn việc hiển thị người dùng cuối cùng truy cập vào máy trên màn hình logon Windows, bạn có thể đổi giá trị dontdisplaylastusername thành 1.

Đây là thay đổi sau khi chỉnh sửa trên Windows Server 2008

Trước khi chỉnh sửa:
Và sau đó:
TH - HT (Theo Petri)

10.19.2010

Khôi phục Windows 7 và Vista từ quá trình Update Driver

Việc giữ cho Windows 7 và Windows Vista vận hành theo những tham số thông thường cần phải thực hiện nhiều tác vụ. Thực tế là hệ thống sinh thái của của các sản phẩm phần mềm và phần cứng được thiết kế để tương thích với các máy trạm Windows phải thực hiện được đầy đủ chức năng này, đặc biệt khi xử lý các công cụ tham gia vào phần quan trọng của hệ điều hành. Ví dụ, sự thất bại của quá trình cập nhật driver có thể dễ dàng làm cho hệ điều hành Windows 7 và Windows Vista bị đánh sập hoàn toàn.

Microsoft từng xác nhận rằng “Vấn đề này có thể xảy ra đối với một trong các trường hợp sau: Thiết bị mới hay driver gây ra sự xung đột với các thiết bị khác đã được cài đặt trên hệ thống, hoặc do một số vấn đề phát sinh trên một phần cứng cụ thể, hay driver đã cài đặt bị lỗi.”

Trong trường hợp bạn đã thực hiện Update Driver (cập nhật driver) cho một thiết bị trong hệ thống, sau đó Windows 7 và Windows Vista có lỗi phát sinh thì tốt nhất bạn nên undo lại những thay đổi vừa thực hiện. Việc khôi phục lại quá trình Update Driver sẽ gây ra một số vấn đề vì driver trước đó đã bị xóa bỏ, vì vậy trước tiên bạn cần phải khởi động Windows.

Nếu Windows 7 hay Windows Vista không khởi động được như thường lệ thì bạn hãy khởi động lại máy tính, nhấn F8 trong khi hệ thống đang khởi động. Khi màn hình Advanced Boot Options xuất hiện, hãy lựa chọn tùy chọn Last Known Good Configuration rồi nhấn Enter.



Hoặc cách khác, bạn có thể lựa chọn khởi động vào chế độ Safe Mode. Sau khi hệ thống đã khởi động, bạn hãy truy cập vào Device Manager bằng cách nhập Device Manager vào hộp tìm kiếm trong menu Start. Khi cửa sổ Device Manager hiện ra, hãy lựa chọn thiết bị mà bạn đã cập nhật driver, phải chuột lên nó chọn Properties. Tại tab Driver của cửa sổ Properties, chọn Roll back Driver. Với những thiết bị mới cài đặt, Windows sẽ hỗ trợ khả năng gỡ bỏ. Những ứng dụng được triển khai với những driver tương thích có thể được gỡ bỏ trong Control Panel. Sau khi khởi động lại Windows 7 và Vista sẽ hoạt động bình thường trở lại.


Tất nhiên, luôn tồn tại những khả năng mà một số thay đổi gây ra trong quá trình cập nhật driver cho thiết bị làm cho Windows 7 và Windows Vista không thể khởi động được dù bạn đã làm đủ mọi cách. Trong những trường hợp đó bạn cần phải chuyển sang môi trường Windows Recovery Environment để khắc phục sự cố cho Windows 7 và Windows Vista. Bạn hãy thực hiện các thao tác dưới đây:

Lưu ý: Để có thể sử dụng môi trường Windows Recovery Environment bạn phải có đĩa chứa bản cài đặt của Windows 7 hay Vista.

1. Trước tiên chúng ta cần truy cập vào môi trường này. Thực hiện các bước sau:
  • Bạn hãy khởi động lại hệ thống từ đĩa chứa bản cài đặt Windows 7 hay Windows Vista (cần thực hiện một số cấu hình trong BIOS).
  • Khi nhận được thông báo Press any key to boot from CD/DVD thì bạn hãy nhấn một phím bất kì để hệ thống tải đĩa cài đặt.
  • Tiếp theo hãy lựa chọn ngôn ngữ, thời gian, bàn phím, phương thức đầu vào, … rồi nhấn Next.


  • Sau đó click vào liên kết Repair your computer.
  • Trong hộp thoại System Recovery Options, lựa chọn hệ điều hành muốn sửa rồi nhấn Next.

2. Sử dụng những công cụ sẵn có trong Windows Recovery Environment để sửa Windows Vista và Windows 7. Thực hiện các thao tác sau:
  • Nếu máy tính không khởi động được vào Safe Mode thì hãy click vào nút Startup Repair trong hộp thoại System Recovery Options đễ khắc phục những sự cố có thể cản trở hệ điều hành khởi động. Nếu công cụ Startup Repair không phát hiện hay khắc phục được lỗi hãy chuyến sang bước tiếp theo. Còn nếu Windows 7 hay Windows Vista khởi động được hày truy cập vào vùng Resolve the cause of the startup problem (khắc phục nguyên nhân của sự cố khởi động).
     
  • Trong hộp thoại System Recovery Options, click vào System Restore để khôi phục lại hệ điều hành tới thời điểm khôi phục đã được tạo khi ứng dụng hay driver đó được cài đặt. Nếu bạn không sử dụng công cụ System Restore để khởi động máy tính hãy chuyến sang bước 3.

3. Sử dụng tùy chọn Command Prompt trong Windows Recovery Environment để hủy bỏ driver làm cho hệ điều hành không thể khởi động được. Thực hiện các bước sau:
  • Trong hộp thoại System Recovery Options, click chọn Command Prompt. Khi đó cửa sổ Command Prompt sẽ hiện ra.
  • Nhập lệnh dưới đây sau khi chạy mỗi lệnh
cd \Windows\INF

notepad setupapi.app.log

Lưu ý ngày khởi động của mỗi thiết bị mới hay vùng cài đặt driver. Sử dụng những mốc thời gian này để xác định driver cuối cùng được cài đặt.
  • Sau khi xác nhận driver cuối cùng được cài đặt, xác nhận xem liệu driver đó có phải là driver cần thiết để khởi động máy tính hay không. Để làm được điều này, hãy kiểm tra thông tin trong vùng của file Setupapi.app.log mô tả driver này. Nếu driver này liên quan tới Disk Controller hay chipset, hoặc nếu driver này được cung cấp bởi hệ điều hành, hãy kiểm tra tên của driver và dấu hiệu lỗi.
  • Ngoài ra bạn cần xác định xem driver đó có thể bị hủy bỏ trước khi tiếp tục hay không. Thông thường nếu đó là driver cuối cùng được cài đặt thì nó sẽ không cần thiết trong quá trình khởi động hệ thống. Sau đó chuyển sang bước tiếp theo.
  • Tại Command Prompt, nhập Regedit rồi nhấn Enter
  • Click vào HKEY_LOCAL_MACHINE, rồi click chọn Load Hive trên menu File.
  • Tiếp theo duyệt tìm đến file C:\Windows\System32\Config\System rồi click Open.
  • Trong hộp thoại Load Hive, nhập Offline rồi nhấn OK.
  • Mở rộng System rồi click vào Select.
     
  • Trong bảng bên phải, định vị Current rồi ghi lại giá trị trong cột Data.
     
  • Mở rộng ControlSet00X, rồi mở rộng tiếp Servcies. Trong đó X là giá trị bạn ghi nhớ trong bước trên.
     
  • Định vị key phụ liên quan tới driver cuối cùng được cài đặt. Nếu không thể định vị một driver phù hợp, hãy click vào Services, chọn Find trên menu Edit rồi nhập tên của driver vào hộp Find what, sau đó click Find Next.
     
  • Sau đí click vào key phụ chứa tên của driver đó.
     
  • Trong bảng bên phải, phải chuột lên Start chọn Modify.
     
  • Trong hộp giá trị, nhập 4 rồi click OK. Bước này sẽ chặn khởi động driver đó.
     
  • Tiếp theo định vị rồi click vào key phụ sau HKEY_LOCAL_MACHINE\Offline.
     
  • Trong menu File chọn Unload Hive rồi click Yes trong hộp thoại Confirm Unload Hive.
     
  • Sau đó thoát khỏi Registry Editor.
     
  • Khởi động lại hệ thống.
     
  • Nếu hệ điều hành vẫn không khởi động được, hãy khởi động Windows Recovery Environment rồi lặp lại các bước vừa thực hiện (trong mục 3). Bạn có thể sẽ phải lặp lại những bước này cho đến khi mọi driver (được cài đặt khi quá trình khởi động cuối cùng thành công) bị hủy bỏ.
     
     
    Xian (Theo PCTipsBox)

10.07.2010

password Windows với Ophcrack

Hiện tại, trên các diễn đàn và website IT đã có rất nhiều bài viết về cách crack mật khẩu khi bạn vô tình quên mất password đăng nhập. Và hầu hết các phương pháp đó đều dựa trên đĩa Hiren Boot, Ubuntu Live CD… nhưng điều gì sẽ xảy ra khi bạn không thể khôi phục được mật khẩu? Trong bài viết sau đây, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu với các bạn 1 phương pháp khác sử dụng công cụ hỗ trợ Ophcrack.
Trước tiên, các bạn cần truy cập vào trang chủ của Ophcrack và tải file CD image tại đây:
Sau đó ghi file *.iso này ra đĩa CD bằng bất kỳ chương trình hỗ trợ nào như ImgBurn, UltraISO, Nero... :
Nếu bạn muốn sử dụng trên máy tính không có ổ CD/DVD thì nên dùng công cụ hỗ trợ PenDrive Linux để tạo USB boot. Khi sử dụng USB boot thì tốc độ và hiệu suất làm việc sẽ được cải thiện khá nhiều, hoặc bạn có thể sao lưu dữ liệu trực tiếp ngay trên USB đó:
Để tạo ổ USB boot hỗ trợ tất cả các phiên bản Windows, hãy tải table password miễn phí miễn phí tại đây. Lưu ý rằng tại đây có 2 loại table miễn phí và trả phí, đương nhiên bản trả phí sẽ hoạt động nhanh và đa dạng hơn nhiều so với bản miễn phí, nhưng bù lại, dung lượng của các bản này cũng hoàn toàn khác xa nhau. Do chỉ sử dụng trên USB nên chúng ta chỉ cần bản Vista với dung lượng khoảng 461 MB:
Sau đó giải nén file table này vào thư mục \tables\vista_free trên USB và chúng sẽ tự động sử dụng bởi Ophcrack:
Boot từ CD/USB

Đây là giao diện chính sau khi các bạn boot từ CD/USB:
Chọn chế độ automatic và Ophcrack sẽ tự động dò tìm, phá các mật khẩu của tất cả tài khoản trên máy tính. Lưu ý rằng nếu máy tính khởi động nhưng bạn chỉ thấy màn hình trống hoặc Ophcrack không hoạt động, hãy khởi động lại và điều chỉnh bộ nhớ RAM cấp phát cho chương trình trong mục Option từ Boot Menu:
Tùy vào độ phức tạp, dài ngắn của mật khẩu mà quá trình crack sẽ diễn ra nhanh hoặc chậm, và với table free được download tại bước trên thì có thể password sẽ không bao giờ tìm được. Một khi quá trình này hoàn tất, bạn sẽ thấy chi tiết password, ghi lại và sau đó sẽ khởi động lại máy. Hoặc nếu không xử lý được trên 1 tài khoản nào đó, bạn hãy đăng nhập vào account quản trị và dùng quyền thiết lập để xóa bỏ password ở bên trong Windows:
Trên đây là 1 cách khác để bạn lấy lại mật khẩu Windows bên cạnh những phương pháp phổ biến hiện nay, trong trường hợp bạn không sử dụng ổ cứng đã mã hóa dữ liệu và mật khẩu không quá phức tạp. Chúc các bạn thành công!

T.Anh (theo HowToGeek)